Nguyễn Trọng Tạo: Khi xã hội xuống cấp nhà thơ - ngươi ở đâu" (2)

t2Nguyễn Đức Tùng thực hiện

(tiếp theo)

Nguyễn Đức Tùng: Nói chuyện với các nhà thơ tôi để ý nhiều người không nhận ra ảnh hưởng của người khác lên thơ của họ hoặc họ tránh nói đến điều đó. Anh thì khác. Ngược lại anh có nghĩ là thơ anh cũng ảnh hưởng đến những người viết khác không? Ngoài ra thơ anh có được nhiều người nhớ và thuộc không?

 

Nguyễn Trọng Tạo: Nhiều người ảnh hưởng nhịp “đồng dao bát ngôn” của tôi lắm. Có nhà thơ thông báo cho tôi là ông sắp in chùm thơ có bài “bắt giọng” NTT.

Tôi cũng đọc thấy tôi trong nhiều nhà thơ trẻ nhưng thường thì họ không dám công khai thú nhận điều đó họ chỉ nói họ ảnh hưởng những nhà cách tân trẻ hơn tôi. Nhưng thơ họ không dễ thuộc như thơ tôi. Thơ tôi có bài chỉ đọc một lần là thuộc. Ví dụ: “Sông Hương hóa rượu ta đến uống/ Ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say”; “Em mười chín tuổi nghìn năm trước/ Sao đến bây giờ mới hai mươi?… Cứ tưởng một lần cho đỡ khát/ Nào ngờ bùa ngải lú trời xanh”… Tôi được hậu đãi ở nhiều nơi chỉ vì họ thuộc thơ thuộc nhạc của tôi đấy là họ quý cái con người làm nên những chữ những nốt gần gũi họ. Có một lần tôi đã bị kiểm lâm bắt cùng với đội chiếu phim của Quân khu Bốn. Chả là xe chiếu phim kết hợp chở củi từ miền núi về xuôi bị kiểm lâm ngã ba Tuần (Nghệ An) kiểm tra tôi phải đưa thẻ nhà báo ra xin giùm. Thế là họ cầm luôn thẻ của tôi rồi bắt cả đoàn đánh xe vào “nơi giam giữ”. Hóa ra anh trạm trưởng kiểm lâm thuộc ráo trọi cái bài thơ “Tản mạn thời tôi sống” một bài thơ khá dài. Trong cuộc rượu tối hôm đó anh ta đọc “trăm phần trăm bài thơ” tặng tác giả. Và tôi đã cảm động “trăm phần trăm rượu” với anh.

 

Nguyễn Đức Tùng: Anh nhận xét ra sao về bút pháp mới mẻ của Thanh Thảo Nguyễn Quang Thiều và những người khác?

Nguyễn Trọng Tạo: Thanh Thảo là một tài thơ của thế hệ tôi. Anh sớm thoát khỏi giọng điệu tiền chiến và tự thoát khỏi giọng “thơ chống Mỹ” của chính mình để tìm đến một tư duy cách tân với bút pháp đồng hiện của tiểu thuyết hay giao hưởng phương Tây mà rõ nhất là Khối vuông rubich giữa những năm 80 của thế kỷ trước. Nhưng hình như càng đi vào cách tân thơ anh như mất dần đi những ấm nồng cảm xúc thậm chí đôi khi có cảm giác lạnh. Nhưng cũng có thể cảm giác lạnh ấy là cảm giác lạnh của giọt cồn 90 độ rơi vào da thịt cảm giác lạnh của nguyên lý tủ lạnh? Nguyễn Quang Thiều lại khác. Thơ Thiều chứng tỏ một sức vóc vạm vỡ giàu chất văn xuôi hiện đại giàu hình ảnh nhưng ít gặp ở anh những bài thơ câu thơ xuất thần thảng thốt. Thời làm tạp chí Cửa Việt chúng tôi khá thích bài thơ “Những con kiến bò qua bàn tiệc” của anh và đã trao thưởng cho bài thơ đó. Có thể anh là một nhà thơ lớn nhưng để đưa ra một nhận xét chung tôi cho rằng thơ Nguyễn Quang Thiều không có bài kém và cũng hiếm bài thật hay. Có thể vì thế mà một số người trẻ thích và bắt chước cách nói của anh nhưng họ cũng chỉ mang tới một không khí thơ mới chứ ít mang tới những bài thơ mới thật hay. Theo tôi sự đóng góp quan trọng của cả hai anh là tinh thần cách tân thơ Việt cuổi thế kỷ XX một tinh thần cách tân hướng tới phương Tây.

Nguyễn Đức Tùng: Có thể đúng như anh nói là Nguyễn Quang Thiều không có bài kém và cũng hiếm bài thật hay. Tôi nghĩ rằng đây không phải là trường hợp riêng của anh Nguyễn Quang Thiều. Điều anh nói có thể áp dụng cho rất nhiều người làm thơ không vần và thơ theo xu hướng cách tân hiện nay: họ không những không có những bài thật hay mà ngay những câu thơ xuất thần cũng khó tìm được. Đây là vấn đề tài năng cá nhân hay là tính chất đặc trưng của bút pháp thơ tự do?

Nguyễn Trọng Tạo: Tôi đã đọc thơ văn xuôi của Charles Simic do Nguyễn Quang Thiều chuyển ngữ và tôi kính phục tài thơ của Simic. Thơ hay không chịu được. Nó hay đến nỗi khiến tôi cứ bị ám ảnh mãi đến giờ. Tôi đọc được “tư duy thơ” của Simic trong thơ văn xuôi của ông vô cùng mạnh mẽ và độc đáo nó cứa vào tâm can trí não người ta. Cái mà nhiều nhà thơ văn xuôi (và cả những nhà thơ không văn xuôi) của chúng ta thường nhầm lẫn là lẫn lộn “tư duy thơ” với “tư duy văn xuôi”. Và vì thế nó thường biến thơ thành món hàng thời thượng. Thời thượng thì chóng phai.

Nguyễn Đức Tùng: Trở lại với Thanh Thảo. Anh cho rằng thơ Thanh Thảo “mất dần đi những ấm nồng cảm xúc”. Đây là trình trạng chưa đạt đến cái mà ta cần đạt đến hay đây là bản chất của một trường thẩm mĩ mới mà Thanh Thảo đã chọn lựa? Phải chăng công chúng đọc thơ Việt Nam hiện nay đang ở quá xa phía sau các nhà thơ?

Nguyễn Trọng Tạo: Có cả hai trong giao thời chuyển hóa của thơ Thanh Thảo. Tất nhiên muốn đọc được thơ cách tân thì người đọc cũng phải tự cách tân lối đọc thơ của mình. Có lần tôi đã phát biểu rằng muốn thơ ca phát triển cũng cần nâng cao “dân trí thơ” “văn hóa đọc thơ”. Nó cũng giống như hôm nay gia nhập WTO thì phải nâng cao “dân trí luật” mới hội nhập được.

Nguyễn Đức Tùng: Việc đi tìm những câu thơ hay “xuất thần” tách ra và nhớ chúng như những đơn vị độc lập vốn là một thói quen của nhiều người đọc thơ. Anh có cho rằng thói quen này như nhiều người nghĩ không còn phù hợp trong thời đại in ấn (print) ngày nay không?

Nguyễn Trọng Tạo: Thuộc (và làm ra) một câu thơ hay một bài thơ hay cũng giống như một cuộc làm tình ấn tượng không thể quên. Dù thời đại có đổi thay câu chuyện làm tình không thay đổi. Dù nó không còn dừng lại ở “36 kiểu” nhưng kiểu hay nhất vẫn là kiểu truyền thống. Tôi nghĩ ngay cả những nhà thơ cách tân nhất thế giới cũng không thể từ bỏ truyền thống. Người đọc cũng vậy thôi có thể có nhiều cách đọc nhưng cuối cùng điều mà họ muốn là được đọc những cái xứng đáng là thơ thơ đích thực.

Nguyễn Đức Tùng: Trong một cuộc
trò chuyện với nhà thơ Nguyễn Thụy Kha được Lê Mĩ Ý ghi lại (talawas 2004) có vẻ như anh cho rằng thơ ngôn ngữ là xu hướng hiện nay và là con đường tất nhiên phải tới của thơ Việt Nam. Anh có nghĩ rằng sẽ có nhiều người không đồng ý với điều này?

Nguyễn Trọng Tạo: Thơ ngôn ngữ xuất hiện ở Mỹ và đã thành một trào lưu. Cái phép lạ hóa ngôn ngữ để tạo ấn tượng cảm giác về thời hiện đại này là một đóng góp không nhỏ đối với thơ Mỹ nói riêng và thơ thế giới nói chung. Nếu tôi nhớ không nhầm thì tôi chưa bao giờ nói thơ ngôn ngữ “là con đường tất nhiên phải tới của thơ Việt Nam” cả. Nhưng nếu người Việt nào làm thơ ngôn ngữ kiểu Mỹ thì cũng chẳng sao nếu họ thấy không thể làm khác. Vấn đề là chúng ta phải biết thơ hiện đại thế giới đang ở đâu và thơ Việt Nam chúng ta đang ở đâu. Phải nói là ngôn ngữ Việt phong phú và độc đáo đến nỗi có người nước ngoài sau khi thông thạo tiếng Việt thì bỗng thấy tiếng Anh của họ nhiều lúc không có đủ từ để thay từ tiếng Việt. Điều đó làm cho thơ Việt trở nên độc đáo thăng hoa tâm thức Việt. Trường hợp thơ Hồ Xuân Hương được dịch ở Mỹ và được coi như một hiện tượng đối với độc giả Mỹ hiện đại không phải là chuyện ngẫu nhiên dù bản dịch đã làm mất đi khá nhiều thú vị của ngôn ngữ Việt. Chính vì thế mà năm 1993 khi trả lời phỏng vấn của đài RFI về văn học Việt Nam tôi hy vọng Việt Nam sẽ có giải Nobel về thơ nếu như có những nhà-thơ-dịch-giả phương Tây thông thạo ngôn ngữ và văn hóa Việt đến độ có thể làm thơ bằng tiếng Việt như một số nhà thơ nổi tiếng của ta có thể làm thơ bằng tiếng Pháp và dịch các nhà thơ Pháp trước đây. Lúc đó tôi có nói tới chiến lược hội nhập thơ Việt nghĩa là muốn thế giới biết tới thơ Việt thì chính phủ Việt Nam phải có chính sách đài thọ và mời một số nhà thơ nước ngoài tới Việt Nam học tập nghiên cứu tiếng Việt văn hóa Việt và thơ Việt. Nếu những nhà thơ nước ngoài đó thích thơ Việt cảm nhận được sự tinh tế của ngôn ngữ tâm lý văn hóa Việt và dịch thơ Việt ra ngôn ngữ của họ thì chắc chắn thơ Việt sẽ có chỗ đứng trong thơ thế giới. Nhưng tiếc thay thơ Việt hiện nay được dịch ra tiếng này tiếng nọ lại bởi những người không biết làm thơ bằng ngôn ngữ của chính họ hoặc bởi những nhà thơ Tây tiếp xúc với thơ Việt qua thông ngôn. Tôi trả lời hơi xa câu hỏi của anh nhưng những điều đó cũng bổ sung cho quan niệm của tôi về cách tân thơ hội nhập thơ về thơ ngôn ngữ đối với Việt Nam. Tôi cũng không rõ là nhiều hay ít người sẽ đồng ý với tôi. Mỗi người có một quan niệm riêng và như người ta vẫn nói: Nhiều khi chân lý không thuộc về số đông.

Nguyễn Đức Tùng:
Anh cũng là một nhạc sĩ. Anh làm tôi nhớ đến Leonard Cohen nhà thơ hàng đầu hiện nay của Canada hiện vẫn còn sống. Ông vừa là người viết nhạc vừa là ca sĩ vừa viết nghiên cứu văn học viết tiểu thuyết bên cạnh sự nghiệp thơ ca lớn. Anh đã làm thế nào để vừa tạo nên các bài thơ có vần như lục bát tám chữ vừa làm các bài thơ phóng túng tự do lại vừa làm nhạc? Chất nhạc sĩ của anh mạnh hơn hay chất nhà thơ mạnh hơn? Anh có quan tâm đến oral poetry (thơ truyền khẩu) không?

Nguyễn Trọng Tạo: Những cái tôi làm cũng đơn giản thôi. Thích vần thì vần. Thích không vần thì không vần. Thích thơ thì… thơ. Thích nhạc thì… nhạc… Vấn đề chỉ gói trong một chữ “thích” ấy thôi. Nếu anh làm cái anh không thích làm thì tốt nhất là anh đừng làm. Ngày nào tôi cũng nghe người ta hát qua điện thoại mấy bài hát của tôi. Tuy vậy với tôi thơ mới là cái nghiệp. Nếu nói thơ truyền khẩu thì chỉ nên hiểu đấy là nghệ thuật folklore. Thơ ca dân gian là vĩ đại lắm. Tôi vô cùng yêu thích nó. Nhưng tôi rất ghét những nhà thơ làm thơ như ca vè. Vậy thì với tôi thơ thuộc nghệ thuật hàn lâm… 

Nguyễn Đức Tùng: Xin cho nghe bài thơ mới nhất của anh.

Nguyễn Trọng Tạo: Vâng đây là bài thơ mới nhất tôi gửi anh hôm trước và hôm nay tôi sửa lại:

Thay đổi địa chỉ
 
Tôi xóa nhiều tôi thay bằng nhiều tôi khác
Tôi xóa nhiều em
khi xóa thật
khi xóa đùa

 
Sổ danh bạ ngày ngày thêm dòng mới
Dòng xóa đi
dòng xóa đậm
dòng xóa mờ

 
Nhưng không xóa số điện thoại Trịnh Công Sơn 090921327 [1]
Thỉnh thoảng vô Sài Gòn gọi anh để nghe gió trả lời

 
Có địa chỉ thay đổi rồi vẫn nhớ
Có địa chỉ không đổi thay mà sao cứ quên hoài…

 
10.2006 – 11.2006


Nguyễn Đức Tùng: Bài này mới về ý và cả về lời. Đọc là biết ngay. Mặc dù chữ dùng vẫn giản dị. Trong khi đó:


Chim én thành tro bao giờ chẳng biết
Vỗ mãi trong ta từng lời ly biệt

Ngỡ chim tuyệt diệt mấy chục năm rồi
Sáng nay bay về đậu đầy giây phơi

Này chim én ơi từ trời xa đến
Phương ấy phương nào lao xao cuộc chiến

Ta thấy ta nằm trong tổ của ngươi
Rồi ta ra ràng vỗ cánh rong chơi


thì lại mới trong một hình thức cổ điển. Tôi biết là khó có sự tách bạch giữa cái gọi là nội dung và cái gọi là hình thức. Tuy nhiên tôi tự hỏi sự kết hợp nào giữa cái hiện đại và cái cổ điển là thích hợp nhất?

Nguyễn Trọng Tạo: Đấy chắc chắn không phải câu chuyện bình cũ rượu mới. Đấy phải là sự kết hợp khi cái hiện đại làm cho cái cổ điển hiện đại lên và cái cổ điển làm cho cái hiện đại “phảng phất” cổ điển.

Nguyễn Đức Tùng: Điều gì trong sinh hoạt thơ và văn học nghệ thuật ở Việt nam hiện nay làm anh hứng khởi và hài lòng nhất?

Nguyễn Trọng Tạo: Đấy là những phản ứng trái chiều với quan niệm chính thống lỗi thời về một tác phẩm một sự kiện hay một giải thưởng văn học vừa được công bố. Nó là một bước đi mới của con sên dân chủ. Trường hợp Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư Vết sẹo và cái đầu hói của Võ Văn Trực việc xét Giải thưởng Hồ Chí Minh Giải thưởng Nhà nước hay Giải thưởng Hội Nhà văn VN vừa qua… đã được báo chí trong nước lên tiếng khá thẳng thắn. Những tác phẩm được tranh luận đã lôi cuốn người đọc trở lại với văn học nhiều đến nỗi các nhà làm sách phải ngỡ ngàng khi sách được nhân bản lên tới con số hàng vạn bản. Trái lại sự kiện ông nguyên Tổng thư ký Hội Nhạc sĩ buộc lòng tự rút khỏi danh sách ứng cử Giải thưởng Hồ Chí Minh và ông đương kim Chủ tịch Hội Nhà Văn (cũng là Chủ tịch Hội đồng giải thưởng) tự ký trao giải thưởng cho tập thơ “đại nhạt” của mình (chữ của Trần Mạnh Hảo nói về tập thơ Thương lượng với thời gian) khiến công luận coi thường giải thưởng này là một thắng lợi của dân chủ truyền thông. Điều đó chứng tỏ việc lợi dụng chức quyền để trục lợi cho cá nhân những người lãnh đạo văn nghệ là có thật (chứ không phải vì tôi làm thơ nên tôi quản lý lơ tơ mơ) nó đồng đảng với những kẻ tham ô tham nhũng không chỉ về vật chất mà còn cả tham ô tham nhũng công danh. Bởi ai cũng biết đấy chính là sự đầu cơ gian lận cho những mưu đồ sắp tới của riêng họ. Và họ đã bị vạch mặt chỉ tên. Nếu dân hứng khởi và hài lòng khi bọn quan tham bị vạch mặt thì cớ sao giới văn nghệ không vui khi bất công trong văn nghệ được công khai lên án? Và sự lên án ấy chắc chắn là có hiệu quả…

Nguyễn Đức Tùng: Còn điều gì làm anh thất vọng nhất?

Nguyễn Trọng Tạo: Lại vẫn là con sên dân chủ. Nghe có vẻ kỳ nhưng không kỳ đâu. Con sên dân chủ đang bò đi nhưng nó vẫn bị sức cản của những luật lệ bất thành văn. Và sự mở ra dân chủ của văn nghệ không có bảo hiểm rõ ràng. Chuyện mở cửa khép cửa là phức tạp lắm. Trước đây tôi mỉm cười khi thấy một vở kịch có tên là Cửa mở hé. Mở hé chứ không phải mở toang. Năm 1981 tôi ghé thăm nhà thơ Tế Hanh gặp một vị khách là tùy viên Văn hóa Liên Xô. Anh Tùy viên nói với chúng tôi rằng: Năm Canh Thân (năm xui xẻo) Liên Xô vừa mất một nghệ sĩ rất tài ba đó là Vysotsky (1938-1981) anh này là tài tử điện ảnh đã từng làm nhiều thơ và sáng tác những bản nhạc không được chính thống chấp nhận nhưng dân chúng thì vẫn in đĩa hát của anh ta và nhạc của anh được lưu truyền rất sâu rộng trong giới thanh niên. Tôi nói ở Việt Nam chúng tôi đang thời “Cửa mở hé” nên rất khó mà xuất bản chui như vậy. Nhà thơ Tế Hanh cười: “Dạ dày Liên Xô to hơn dạ dày Việt Nam nên tiêu hóa được nhiều thứ hơn”. Năm 1997 ở Bắc Kinh ông phó chủ tịch Hội Nhà Văn Trung Quốc nói với chúng tôi: “Văn nghệ Trung Quốc mở rộng cửa. Mở rộng cửa thì các luồng gió mới gió mát lưu thông nhưng đồng thời cũng phải chấp nhận cả ruồi nhặng bay vào”. Nghĩ về ta tôi lại tự an ủi kiểu Tế Hanh: “Dạ dày các ông to” hoặc “Cái nước mình nó thế” kiểu Hoàng Ngọc Hiến. Đấy là kiểu an ủi của nhược tiểu. Đấy là “Giấc mơ con đè nát cuộc đời con” (Chế Lan Viên). Tại sao chúng ta không đứng trên tầm thế giới để phán xét chính mình khi đã có một Đặng Thái Sơn trên đài vinh quang tột đỉnh piano? Cái mập mờ tự ti nhược tiểu của chúng ta kìm hãm chính chúng ta ngay trong cả việc đối xử với văn chương nghệ thuật. Thế thì làm sao có tư tưởng mới tư tưởng lớn? Chính vì thế nếu nói văn nghệ ta nghèo đói tư tưởng thì cũng chẳng có sai. Đã không có tư tưởng lớn thì khó mà có “tác phẩm lớn tác phẩm đỉnh cao” như ngày nào cuộc họp nào cũng ra rả kêu gọi. Nhưng tôi không tuyệt vọng. Tôi nghĩ con sên dân chủ vẫn bò…

Nguyễn Đức Tùng: Thanh niên Việt Nam ngày nay có một lý tưởng để sống (và chết) cho nó không? Còn các nhà thơ?

Nguyễn Trọng Tạo: Sống (và chết) cho Tự do Dân chủ cũng như nói “Tổ quốc hay là chết” thời chiến tranh. Nhưng tôi thấy bên Tây nhiều nhà thơ tự sát chứ bên ta chuyện đó hiếm lắm.

Nguyễn Đức Tùng: Ý thức công dân của nhà thơ có phải là một vấn đề của tác phẩm văn học không?

Nguyễn Trọng Tạo: Tôi vừa đọc xong bản thảo tập sách Các nhà thơ giải thưởng Nobel sắp xuất bản (gồm ảnh tiểu sử diễn từ và thơ). Đây là một tập sách mà những nhà thơ những người yêu thơ nên đọc nên có trong tủ sách của mình. Tuy phần dịch thơ còn hạn chế (dịch mà!) nhưng tinh thần thơ ca của hơn ba chục nhà thơ là rất lớn rất đặc sắc. Họ quan tâm về muôn mặt của con người và thời đại. Nếu nói ý thức công dân của nhà thơ thì không nên hiểu chỉ là ý thức công dân của nước này hay nước nọ. Đọc những nhà thơ được giải Nobel này ta thấy ở họ đều hiện lên ý thức công-dân-thời-đại mà họ đang đại diện. Tôi nghĩ rằng nếu nhà thơ muốn thoát ra khỏi cái ý thức công-dân-thời-đại để làm thơ thì nhà thơ ấy sẽ không thuộc về thời đại nào cả. Thơ ca như một thực thể phản ánh con người và thời đại thì mới lớn được mới có ý nghĩa lâu dài được. Ý thức công dân tuy không phải là tất cả vấn đề của tác phẩm văn học nhưng nó là xương tủy để thơ ca có thể đồng hành với con người thời đại và tương lai..

Nguyễn Đức Tùng: Tập thể những người làm thơ Việt nam (poets circle) sinh hoạt với nhau ra sao? Có tính chuyên nghiệp (professionalism) không?

Nguyễn Trọng Tạo: Nếu những người làm thơ Việt Nam vì thích thơ của nhau mà chơi với nhau thì chắc sẽ có nhiều “tập thể” nhà thơ khác nhau và nhiều trường phái thơ sẽ ra đời. Còn “tập thể” mà anh nói chắc là tập trung trong Hội Nhà Văn? Những nhà thơ trong Hội Nhà Văn một hội được điều lệ qui định là “hội chính trị xã hội và nghề nghiệp” nghĩa là nghề nghiệp được đặt sau cùng thì việc sinh hoạt nghề nghiệp cũng chỉ là một sinh họat phụ (như công trình phụ trong xây dựng). Điều ấy đã nói lên tính chất “vụ” chính trị của Hội Nhà Văn. Thời đổi mới người ta đã vận động thế nào đấy để đổi chức năng của Hội chỉ còn là “Hội nghề nghiệp” nhưng chỉ mấy năm sau nó lại trở về mốc xuất phát. Các nhà thơ chủ yếu gặp gỡ nhau trong mỗi kỳ đại hội (5 năm/kỳ) dăm ba ngày (có nhiều người không được dự vì đại hội đại biểu) rồi nhà ai nấy về hẹn gặp lại nhau trên tờ báo của Hội. Nhưng báo của Hội lại không thể đăng thơ “có vấn đề” thậm chí có những tác phẩm của hội viên bị thu hồi thì Hội cũng không hề “hé răng” bênh vực hay mở cuộc tranh luận làm rõ công tội mà tốt nhất là “ngậm miệng ăn… ghế” (chỗ ngồi). Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn hay Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh không được một dòng bênh vực nào của Hội trên báo Văn Nghệ trước công quyền. Thậm chí thời 1981 báo Hội vừa tự hào in được bài thơ “Tản mạn thời tôi sống” của tôi liền sau đó vội cáo lỗi trên báo là đã in nhầm phải một bài thơ non tay viết (ý nói non quan điểm lập trường). Mãi đến thời Nguyên Ngọc làm Tổng biên tập báo (1988) nó mới được đánh giá lại và coi bài thơ đó như sự khơi nguồn cho “văn học đổi mới trước đổi mới”. Nó cũng giống việc Hội năm trước trao giải thưởng cho Nỗi buồn chiến tranh thì năm sau đã vội vàng phủ nhận nó.

Những sinh hoạt như vậy có thể gọi là chuyên nghiệp được không? Thế là các nhà thơ phải tự tồn tại theo kiểu của mình. Đọc thơ cho nhau nghe. Rủ nhau đi đọc thơ ở các trường đại học… Và tự viết bài phê bình quảng bá thơ của nhau. Còn các nhà phê bình thì đứng ngoài cuộc phán xét các nhà sáng tác viết phê bình chỉ là nghiệp dư cứ như phê bình văn thơ là độc quyền của họ.

Nguyễn Đức Tùng: Rủ nhau đi đọc thơ ở các trường đại học… sao mà các anh sung sướng thế! Sinh viên có mê thơ của Nguyễn Trọng Tạo không? Tập thể những người viết văn mà tôi đề cập đến ở đây không chỉ giới hạn trong một đoàn thể tổ chức. Sinh hoạt của một tập thể hay cộng đồng (community) như thế ở một thành phố nhỏ Canada mà tôi quen thuộc có thể là như thế này:

“Robert Budde (hỏi): Xin anh nói một ít về cộng đồng viết văn ở Winnipeg…?

George Amabile (trả lời): Cái này là cả một cuốn sách. Tôi nghĩ điều thú vị nhất là sự phát triển của cộng đồng cả trong ý thức của chính nó về nó và trong chất lượng của công việc mà nó tạo ra được cho xã hội ngày một nhiều. Đầu tiên đến làm việc ở khoa tiếng Anh trường đại học Manitoba tôi nói chuyện với Hội đồng nghệ thuật của tỉnh bang Manitoba. Tôi không nghĩ là mình phóng đại khi nói rằng tôi đã hoảng hồn (shocked) bởi cái không khí văn chương mà tôi gặp ở đó. Hầu hết các thành viên lớn hơn tôi cỡ vài mươi tuổi hoặc hơn nữa hết sức hào hiệp văn minh đầy lòng nhiệt tình nhưng ý tưởng của họ về thơ thì ôi thôi có thể nói là cách một thế kỷ về trước. Và họ cũng chẳng có tiền bạc gì để giúp đỡ các nhà văn cả cũng chẳng biết làm sao để xin tiền ở đâu. Chính là Kenneth Hughes đã xáo tung tất cả tạo ra một di sản mà ngày nay chúng ta thừa hưởng và Hội đồng nghệ thuật Manitoba ngày nay cung cấp rất nhiều tài trợ cho tất cả các ngành văn học nghệ thuật cho các nhà thơ và cho các nhà xuất bản thơ.

Vào những ngày đó tôi là một trong vài người duy nhất đã thách thức sự phán quyết nghệ thuật có tính chạy theo thị hiếu của các bài xã luận trên các tờ báo lớn như Poetry (Chicago) Harper’sThe New Yorker. Tôi cũng còn được trích dẫn trên tờ Time của Mĩ. Tất cả những điều đó (ngày nay nghĩ lại) vừa tốt vừa là chuyện tào lao”

(trích trong tập In Muddy Water Robert Budde).

Anh có nghĩ rằng chúng ta cần những nhà thơ xông xáo trong sinh hoạt như thế chăng?

Nguyễn Trọng Tạo: Ở Hà Nội có CLB thơ Hương Ngoại Ô mở rộng hội viên ra cả nước nên vừa được đổi tên là CLB thơ Việt Nam. Số hội viên của CLB này trên 1000 nhà thơ (hơn Hội nhà Văn đến mấy trăm người) có nhiều nhà thơ doanh nhân và quan chức (ông Nguyễn Văn An ông Vũ Mão v.v…). Họ xuất bản nhiều tập thơ và hàng năm làm tuyển tập trên nghìn trang sách lớn. Thỉnh thoảng gặp dăm ba bài thơ hay nhưng điều đó không quan trọng bằng việc họ chia sẻ niềm vui sinh hoạt thơ với nhau. Và sách họ in ra không bao giờ lỗ có nhiều hội viên mua đến mấy chục cuốn để tặng. Nhiều nhà doanh nghiệp hội viên đồng thời là mạnh thường quân của CLB. Với thơ có cần số đông đến thế hay không? Không thể bàn về điều ấy ở đây được. Dài lắm.

Nguyễn Đức Tùng: Xã hội Việt Nam đang đặt ra những vấn đề làm nóng ruột những ai có suy nghĩ ở cả trong nước lẫn hải ngoại như vấn đề dân chủ vấn đề tham nhũng giáo dục xuống cấp đạo lý suy đồi sự tan rã của các bậc thang giá trị sự dối trá về tinh thần và ở hải ngoại là sự mất dần tiếng Việt và mất gốc của thanh niên vân vân. Trong khi đó nhiều nhà thơ Việt Nam có khuynh hướng chọn con đường văn học thuần túy và sợ hãi các vấn đề chính trị xã hội nói trên. Theo anh tại sao? Điều này đối với thơ tốt hay xấu?

Nguyễn Trọng Tạo: Khi xã hội xuống cấp con người rất cần tiếng nói của nhà văn nhà thơ. Đấy cũng là mảnh đất văn tài thường xuất hiện. Nguyễn Du là trường hợp như vậy ông đối diện với xã hội suy đồi để bênh vực cho tài sắc. Khi nhà thơ né tránh hay chối từ hiện thực xã hội cũng có nghĩa là họ chối từ ngòi bút của mình. Anh hỏi tại sao hiện nay nhiều nhà thơ sợ hãi các vấn đề chính trị là vì họ sợ tù tội sợ đập bể niêu cơm của gia đình. Họ “khôn” lắm dù họ vẫn biết “khôn chốn văn chương là khôn dại”. Họ lựa chọn yên thân. Họ lựa chọn lợi lộc. Thế mới có chuyện văn tài lại làm ra những tác phẩm nhạt nhẽo. Đấy là sự không bình thường. Không bình thường ngay cả khi có nhà văn ta đã phát biểu với bạn văn: “Muốn có một tác phẩm cho thiên hạ đọc được nhà văn Việt Nam mình không những phải có văn tài mà còn phải có tài khôn khéo để luồn lách và tài can đảm để khỏi mang tiếng là hèn”. Chao ôi nghe đúng quá và cũng xót xa quá!

Nguyễn Đức Tùng: Trong thời gian gần đây một tháng một năm có một sự kiện xã hội chính trị văn học lịch sử nào đã khơi nguồn cảm xúc cho một bài thơ của anh?

Nguyễn Trọng Tạo: Gần đây tôi ít làm thơ (ít cả viết báo và viết tiểu luận văn học). Tuy vậy tôi cũng vừa cho xuất bản tập thơ Thế giới không còn trăng (Nxb Hội Nhà Văn 11.2006) gồm 60 bài thơ chọn trong 6 năm vừa qua. Thơ tôi thường viết ra từ kinh nghiệm sống. Có thể nói mỗi bài thơ là một kinh nghiệm sống. Nhưng những kinh nghiệm sống chỉ có thể thành thơ khi có một tia chớp cảm xúc đánh thức nó. “Thế giới không còn trăng” được viết ra bắt đầu từ nỗi kinh ngạc của tôi trước dòng tin “một nhóm các nhà khoa học Nga kiến nghị chính phủ tiêu hủy trăng để cứu thế giới”. Thoạt đầu tôi bị sốc sau đó là một cảm giác buồn xâm chiếm. Tôi nghĩ tới vẻ đẹp tuyệt vời của trăng trong quá khứ của tôi. Tôi nghĩ tới nghĩa địa đến lò hoàn vũ. Tôi nghĩ tới những thần tượng sụp đổ. Và bài thơ ra đời. Một ví dụ khác sự ra đời của bài thơ “Tội đồ của thời gian” xuất phát từ việc đi đưa đám một ông lớn. Một ông lớn khi còn sống thì khối người vây quanh xum xoe nịnh bợ nhưng khi chết thì dù rất đông người đến viếng mà không khí sao lạnh lẽo quá chừng. Chính tôi cũng thấy ớn lạnh. Hình như người ta đến cho “bằng mặt” chứ không hẳn “bằng lòng”. Và tôi nghĩ đến nhân quả sống chết. Tôi nghĩ đến kết cục của uy lực… Thế là những câu thơ đầu tiên xuất hiện: “Có người càng gần càng lớn càng xa càng nhỏ/ Có người càng gần càng nhỏ càng xa càng lớn/ Có người gần xa không lớn không nhỏ”. Thơ thường đến với tôi như thế bất cứ một sự kiện xã hội nào bất cứ một tình yêu hay một số phận nào trong cuộc đời này bất ngờ chấn động trái tim tôi đánh thức những ám ảnh chìm sâu trong vô thức của tôi đều có thể thành thơ. Với tôi thơ là điểm tụ của lăng kính cá nhân hướng ra thế giới. Ở đó tôi học được kinh nghiệm sống của nhân loại và cũng là kinh nghiệm sống của mình kinh nghiệm sống được đánh thức bởi một cái cớ ngẫu nhiên không định trước. Thơ xuất thần thơ vụt hiện cũng đều được “chuẩn bị” như thế.

(còn nữa)