Miền quê thơ ấu [Phần 3]

Miền quê thơ ấu là bức tranh ghép bằng văn xuôi của tuổi thơ tôi với làng quê yêu dấu. Nó được viết ra sau khi tôi bị TCCT đánh bật khỏi Hà Nội trở về Quân Khu Bốn.  Trong sự đùm bọc của những người đồng đội cũ tôi thực sự sống cùng những ám ảnh tươi đẹp của tuổi thơ chốn làng quê mà viết nên cuốn sách này. Cuốn sách đã đượt Giải thưởng VHNT Cố Đô được nhà xuất bản Kim Đồng đưa vào "Tủ sách vàng" tái bản nhiều lần được nxb Thanh Niên in lại trong Tuyển tập Văn Thơ Nhạc Tuổi Thơ của tôi và đã được trích giảng trong sách giáo khoa phổ thông...

Phần 3

 

24. DƯỚI ĐẤT VÀ TRÊN TRỜI        

               Cánh đồng đất cát pha trước làng tôi rất nhiều những con tu hú. Nhưng phải đến lúc cây gạo làng rụng những bông hoa đỏ yểu điệu như những nàng công chúa tôi mới chợt nhớ ra điều đó. Khi cây gạo rụng hoa tu hú ngoài đồng bắt đầu gọi nhau. Thoạt đầu có một con tu hú nào đó cất tiếng kêu trong bờ cây dứa dại. Dường như những con tu hú khác chỉ chờ có thế như những nhạc công chờ cái đũa chỉ huy trên bàn tay nhạc trưởng của mình.

             Và khi cái đũa vung mạnh lên dàn nhạc bắt đầu lên tiếng. Dàn nhạc tu hú đã vang lên sau tiếng gọi của con tu hú đầu bầy.

           Tôi và lũ bạn đã đi tìm những con tu hú dọc những bờ dứa dại nhưng không làm sao trông thấy chúng. Chúng tôi đi rón rén đến nơi vừa phát ra tiếng tu hú kêu bỗng nó im bặt. Ở nơi khác cách chúng tôi không xa một con tu hú khác cất tiếng gọi như trêu tức con người. Và ngay cả nơi chúng tôi vừa rời khỏi tu hú lại kêu. Vì thế tôi chưa bao giờ trông thấy chim tu hú.          Trong những lúc như thế tôi nhìn lên vòm trời và thấy một con chim cắt xuất hiện. Con chim cắt sà xuống cánh đồng rồi bay vút lên cao hót lên một tiếng. Lập tức từ trời xa bay đến một đàn chim cắt. Những con chim cắt bay lượn trên trời thành vòng tròn. Tôi chợt nhận ra giữa đội hình chim cắt một con chim đen và to hơn chim cắt. Đấy là con diều hâu. Những con chim cắt lao vào con diều hâu một cách quyết liệt. Con diều hâu cũng lao vào chim cắt. Nhưng vì chim cắt quá đông và dũng cảm nên con diều hâu sà xuống thấp sát mặt đất rồi bất ngờ vút lên cao trốn chạy. Những con chim cắt tăng tốc đuổi theo con diều hâu cho đến lúc mắt tôi không thể trông thấy những chấm đen trên nền trời xanh cao lồng lộng...          Những con tu hú vẫn kêu xôn xao cánh đồng. Còn cuộc giao chiến giữa chim cắt với diều hâu chắc vẫn còn tiếp diễn trên trời cao. Người ta nói: Tu hú gọi bầy. Người ta cũng nói: Tiếng chim gọi bầy. Và tôi nghĩ: Tu hú gọi bầy dưới đất chim cắt gọi bầy trên trời. 

 

25. TRƯỜNG HỢP NGOẠI LỆ

 

        Tôi rất thích khẩu súng ngắn của anh họ tôi. Anh đi bộ đội chống Pháp tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ và khi về phép thăm nhà mang theo một khẩu súng ngắn. Đi đâu anh cũng mang theo khẩu súng bên hông. Anh bảo: súng bất ly thân - tức là súng không rời người. Thế mới biết khẩu súng đối với anh thật quan trọng.

ở nhà anh họ tôi treo súng trên mắc áo đầu giường. Tôi sờ vào súng anh ngăn lại:

- Nó nổ chết người đấy! - Anh nói.

- Anh mang súng đi bắn chim được không? - Tôi hỏi.

- Không được - Anh cười nói - Không phải súng bắn chim. Đấy là súng của người lính để bắn giặc thôi.

Tôi theo anh sang làng bên thăm ông ngoại anh. Tôi thích theo anh đi vì anh rất vui và hơn nữa anh có khẩu súng. Chúng tôi đi qua cánh đồng làng. Khi gần tới làng ông ngoại anh chúng tôi thấy một con diều hâu sà xuống đàn gà đang nhặt thóc vãi. Những con gà con nghe mẹ gọi chạyh xúm lại nấp dưới hai cánh gà mẹ. Gà mẹ nằm xuống che chở đàn con.

Con diều hâu đói ăn lao xuống mổ vào đầu gà mẹ. Gà mẹ né tránh. Nhưng cánh diều hâu đập mạnh quá gà mẹ ngã kềnh sang một bên. Đàn gà con cuống quýt sợ hãi. Con diều hâu quặp hai chân hai chú gà con bay lên. Nhưng nó vừa bay lên được một cây sào bỗng lảo đảo rơi xuống. Tôi nghe tiếng súng nổ. Anh họ tôi đã bắn chết con diều hâu đó bằng khẩu súng ngắn của anh.

Hai chú gà con được cứu sống. Tôi xách con diều hâu nặng tay đi theo anh.

- Sao anh lại dùng súng để bắn chim? - Tôi hỏi.

Anh giải thích:

- Lúc chim bắt gà con  người nó là kẻ thù của con người. Phải diệt kẻ thù. - Rồi anh cười nói - Nhưng đây là trường hợp ngoại lệ thôi.

 

 

26. CON CHÓ VÀNG

 

        Con chó Vàng là con con chó Mực nhà tôi. Con Mực đẻ được năm con nhưng bố tôi cho đi bốn con - người ta dạm xin từ khi chúng chưa mở mắt. Cả ổ chỉ có mình nó có bộ lông vàng tuyền. Nó là con ngoan nhất ổ. Tôi và bố tôi thích nó nhất. Bố tôi thích nó ngoan tuấn tú. Tôi thích bộ lông vàng mượt của nó. Không ai đặt tên cho nó cả nhưng vì lông nó vàng thế là gọi mãi thành quen: Con Vàng.

Mới một tháng bồng con Vàng đã thấy nặng tay hẳn lên. Nó không chịu ngồi yên trong vòng tay tôi lâu. Chỉ được một lát nó giãy nảy lên đòi chạy xuống nền nhà. Không cho xuống đất nó kêu ư ứ nưh van xin trông thật thương.

Con Vàng được nửa năm người ta làm thịt mẹ nó. Hôm ấy trời mưa mát mẻ mấy bác láng giềng sang chơi rồi tình cờ trông thấy con mực. Họ bàn với bố tôi:

- Trời này rượu thịt chó là nhất. Con Mực nhà ôngđã đẻ sáu bảy lứa rồi nhỉ? Hay là ta thịt quách nó đi uống rượu. Được không nào?

Mấy bác láng giềng tán vào hăng hái bố tôi nghe xuôi tai. Thế là người tìm dây người tìm gậy chuẩn bị bắt chó. Con Mực chưa kịp hiểu đầu đuôi gì thấy người ta quẳng cơm cho ăn thì chạy lại. Bác Toà dùng chiếc gậy tre bất thần đè ngang cổ con Mực. Con Mực giãy giụa nhưng không thể thoát được hai cánh tay cuồn cuộn vạm vỡ của bác Toà. Các bác khác người trói mõm người trói gập cánh khuỷu ra sau lưng. Bố tôi đứng nhìn những người hàng xóm bắt chó rồi ông quay ra hiên nhà lấy chiếc thuổng ra sau vườn dào củ giềng.

Con Vàng thấy thế sợ hãi chạy quanh chân tôi cầu cứu. Tôi đi ra vườn hái lá mơ nó bám theo. Tôi đi ra ngõ mua rượu nó bám theo. Suốt ngày hồm đó nó không rời tôi nửa bước. Tôi vừa thương con Mực lại vừa thương con Vàng và thấy buồn xỉu.

Ngày hôm sau không thấy con Vàng đâu. Nó đi đâu từ sáng sớm. Nhà ăn cơm chiều xong vẫn không thấy nó về tôi đâm nóng ruột chạy đi tìm nó. Đi hết các nhà trong làng không thấy con Vàng của tôi. Tôi đi lang thang lên đền thờ Đức Thánh Bà không hy vọng gì nữa. Bỗng từ trong sân đền con Vàng chạy ra nhảy bổ vào tôi kêu rít lên mừng rỡ. Hai chân trước của nó cứ với với lên ngực như đòi bế lên. Và tôi chợt nhận thấy từ khoé mắt nó ứa ra hai giọt nước trong suốt lấp lánh. Nó biết ở nhà đang rất mong thế là nó theo tôi về.

 

 

27. MÙA GIÓ TÂY

 

        Làng tôi cách biển chỉ hai cây số đường chim bay nhưng mùa hè gió tây thổi về khô khốc. Người ta còn gọi gió tây là gió Lào vì nó thổi từ phía nước Lào sang. Gió tây thường bắt đầu thổi từ cuối tháng tư đến cuối tháng sáu mới ngừng thổi. Gió tây thổi ù ù như bão suốt một dải đất từ nam Quảng Trị đến bắc Nghệ Tĩnh. Tôi biết điều đó từ nhỏ từ khi biết đọc sách và nhờ có quyển sách Quốc văn trong tủ sách của bố tôi.

Suốt những ngày gió tây thổi nắng chang chang. Trời cao chót vót màu mây xanh ngả tím biếc từ sáng đến tối không đổi. Những chiếc mo cau rơi xuống đều được ngâm vào bể nước và cắt thành những chiếc quạt mo. Quạt mo dùng trong nhà chỉ vài giờ thì khô quắt lại phải ngâm vào bể nước một lát nó mới chịu duỗi ra. Không thể nhìn ra sân lâu. Hơi nóng từ sân bốc lên hầm hập hơi nóng cuộn trong nắng như sóng nước dâng mãi lên cao khiến mắt ta chóng mỏi mệt. Nhưng không thể ngủ được giường phản trong nhà đều nóng như rang trên lò than. Rôm sảy mọc đầy người chúng cắn như châm kim vào da thịt. Đi ra đường gió thổi bay tung quần áo cảm giác quând áo có thể bốc lửa. Ngoài đồng những đám bụi cuốn tung lên uốn lượn như những con rồng quái dị. Đồng lúa mới cấy khô trắng như muối chỉ cần châm một que diêm phía đầu gió cả cánh đồng sẽ cháy vèo trong chớp nhoáng. Mương máng khô khốc đất bùn dưới lòng mương nứt nẻ quăn lên như vỏ bào. Cánh đồng nước sau làng đòng Sông Lân vơi dần rồi cạn hẳn. Mấy ngày đầu người ta đi vào các ruộng lúa tìm những chỗ trũng còn đọng nước xúc cá. Những con cá may mắn dồn xuống hồ nước chen chúc nhau sống những ngày cuối cùng chỉ gặp vài hồ nước giữa đồng như vậy. Giỏ đựng cá sẽ đầy ắp. Người ta còn mang theo một sợi dây dài đẻ xâu cá mang về. Trong các ruộng lúa khô khốc xác cá nằm nhan nhản. Những con chưa kịp khô bốc lên mùi hôi thối khó chịu. Giữa đồng trống trên bãi tha ma những "cây gió tây" sống dai dẳng. "Cây gió tây" một năm mọc ra hai loại lá khác nhau. Các mùa thu đông xuân "cây gió tây" ra lá to và nóng. Nhưng đến mùa gió tây những chiếc lá ấy không thể chịu nổi gió nắng héo khô rụng xuống từ nách lá mọc ra những chiếc lá nhọn sắc và cứng đâm vào da thịt như gai đâm. Những chiếc lá nhọn ấy giúp cho "cây gió tây" sống qua mùa hè.

nhiều loài cây phải tìm cách tự tồn tại trong mùa gió tây như "cây gió tây". Người ta nói ven biển còn có một loại cây trên cát cứ đến mùa gió tây nó co rễ lên rồi cuộn lại thành một cụm. Những cây cụm ấy gió tây thổi cuốn nó lăn lóc trên cát. Qua mùa nóng đủ độ ẩm nó lại thò rễ ra ăn xuống đất thành cây. Đi chân trần trên đường làng không thể đi chậm được. Mặt đường nóng bỏng. Người ta phải cúi cổ chạy nhanh đến một bóng râm để dừng nghỉ cho nguội bàn chân. Nhưng bóng râm cũng nóng bỏng lại chạy tiếp đến một bóng râm khác cho đến lúc về tới nhà. Những con trâu thở phì phò như bễ lò rèn. Những mái tranh khô giòn nổ tanh tách. "Phòng cháy hơn chữa cháy" - đấy là khẩu hiệu người ta viết trên nhiều bảng tin tường nhà cạnh đường với nét chữ to màu sơn đỏ. Nhưng thỉnh thoảng một đám cháy nhà bốc lên. Tiếng người kêu thét lẫn trong tiếng kẻng tiếng trống ngũ liên đánh dồn dập từ làng này sang làng khác. Keng keng keng... keng keng. Tùng tùng tùng... tùng tùng tiếng chân người chạy huỳnh huỵch trong nhịp trống ngũ liên vê phía nắm khói đen đang bốc lên ngùn ngụt từ sau những luỹ tre xanh. Những thùng nước đổ vào đống lửa. Nước giếng cạn. Người ta chặt cả vườn chuối ném vào ngôi nhà đang cháy. Không dập kịp đám cháy trong gió tây lửa sẽ thiêu cả làng. Có những ngày gió tây mạnh quá trường cấp một phải cho học sinh nghỉ học. Có mùa nghỉ đến hàng tuần lễ.

Rồi một lần khi mùa gió tây đến cũng nắng hạn kéo dài những chiếc máy bơm nước được chở về làng. Từ ven đê sông Bùng. Những trạm máy bơm mọc lên. Nước tuôn trắng xoá đầu những vòi cao su khổng lồ đổ vào mương máng chảy vào những cánh đồng. Những cây lúa đang khô héo được cứu sống. Màu xanh làm gió tây dịu đi chút ít.

Trong gió tây con người cứ tồn tại cùng với làng mạc của mình. Con người giống những "cây gió tây" hơn là những cây cụm.

 

 

28. CHÓ DẠI

 

        Đến một mùa gió tây con Vàng nhà tôi không chịu nổi nó chạy ra đường sủa lên những tiếng nghe rợn người. Rồi nó chạy bổ về nhà. Tôi ra đón nó. nó cắn vào chân tôi rồi rú lên một hồi dài. Tôi định đánh nó lại thôi. Thế nào nó cũng là con chó thân thiết của tôi.

Bố tôi nói tôi còn nhớ rõ: Khi con người thọc gậy vào tổ ong những con ong sẽ toá ra đốt lại người nhưng khi con chó cắn vào con người con người không cúi xuống cắn lại con chó. Tôi đã không đánh lại con chó có lẽ vì nhớ lại lời nói của bố tôi. Nhưng khi biết nó đã hoá chó dại thì nó chạy biến đi rồi.

Từ đó hàng ngày tôi phải đến trạm xá tiêm thuốc. Bác sĩ bảo tôi phải tiễm mỗi ngày một mũi tiêm. Hai mươi mũi tiêm mới khỏi. Lần nào đi đến trạm xá tôi cũng nổi cáu khi nghĩ tới con Vàng. Rồi có lúc tôi thấy nhớ nó.

Một buồi chiều khi tôi từ trạm xá trở về thấy trên đường làng một tốp thanh niên đi rất hùng hổ. Tay người nào cũng cầm một chiếc gậy thỉnh thoảng lại vung gậy lên. Có người cầm sẵn một cuộn dây thừng. Họ xung vào các ngõ. Và tiếng chó trong các ngõ sủa ran. Được một lát tiếng chó sủa im bặt. Họ lôi từ trong ngõ ra con chó đã bị trói rồi sâu đòn khiêng qua hai chân sau của nó khiêng đi.

Tôi đi một quãng nữa và gặp một tốp thanh niên khác. Tốp thanh niên này có hai người khiêng một chiếc đòn dài. Trên chiếc đòn có năm con chó bị trói đang ngắc ngoải. Tôi nhận ra con vàng nhà tôi trong xâu chó năm con ấy. Con vàng cũng nhận ra tôi. Nó giương cặp mắt trắng dã nhìn tôi rồi giãy lên một cái làm cho anh thanh niên đi sau phải quát lên một tiếng. Con Vàng nhắm mắt lại vĩnh biệt tôi.

Tôi đã không đánh chết con Vàng của tôi sau khi nó hoá chó dại. Và người ta kết liễu đời nó. Họ là những đội viên của đội diệt chó. Mấy hôm nay chính quyền đã ra lệnh cấm nuôi chó nhằm ngăn ngừa nạn chó dại.

 

 

29. CÁNH ĐỒNG ĐÃ GẶT

 

        Đêm trăng gió nồm. Cánh đồng đã gặt phả lên mùi rơm rạ thơm ngai ngái. Tôi đi một mình trên bờ ruộng. Cổ chân thỉnh thoảng mắc lại những cọng rơm ram ráp. Tôi đi không có ý định cụ thể. Càng đi càng thấy khoan khoái dễ chịu. Những con cào cào đột ngột từ dưới chân tôi bay lên rồi hạ xuống ở một gốc rạ nào đó. Tiếng đập  cánh của nó hẳn vào không khí một đường cầu vồng ngắn. Nhiều đám ruộng nhấp nhô bu rạ. Những bu rạ vừa giống những mái nhà trên sa mạc vừa giống những ngọn núi san sát mọc giữa đồng bằng.

Những thửa ruộng rạ đã được gánh về nhà mỗi gốc rạ lấp lánh sương đêm. Những hạt sương sáng lên bởi ánh trăng chiếu qua nhưng có cảm giác chúng sáng hơn ánh trăng. Tôi đứng nhìn cánh đồng chi chít những gốc rạ phát sáng. Và chợt nhận ra cánh đồng giống một bầu trời đầy sao sáng...

 

 

30. BẠN TÓC XOĂN

   

        Có lẽ không ai là không có một người bạn rất thân trong làng. Người bạn tuổi thơ. Lớn lên xa nhau mõi người mỗi ngả. Mỗi khi nhớ về quê hương ta lại nhớ đến người bạn thân thiết ấy của mình. Có thể nói chính người bạn thân tuổi thơ giúp ta nhớ lại một cách sinh động nhất thời thơ ấu. Nơi gốc đa sân đình bến sông giếng nước... nơi đâu chẳng gắn liền với bao kỷ niệm giữa bạn và ta. Nếu bạn phải rời làng quê đi xa ta muốn đi cùng bạn. Nếu ta phải rời làng quê đi xa bạn muốn đi cùng ta. Có những đôi bạn may mắn được đi mãi bên nhau. Cũng có những đôi bạn không có sự may mắn ấy. Nhưng bạn ơi không bao giờ quên không bao giờ quên.

Tôi có người bạn tuổi thơ của tôi. Tên bạn là Trung. Bạn có mái tóc xoăn tít và nước da trắng trẻo. Không còn đứa nào nhớ là cùng chơi thân với nhau từ bao giờ lại càng không nhớ là nguyên do gì đã dẫn hai đứa đến sự thân thiết như vậy. Chỉ khi đã chơi thân với nhau rồi người ta bảo hai đứa giống nhau như hai giọt nước. Giống nhau về khuôn mặt hình dáng giọng nói lẫn tính tình. Đến nỗi bà nội của Tóc Xioăn đôi mắt bị mù loà thường nhầm tôi với bạn. Một lần tôi đi học về trước ghé qua nhà bạn chỉ có bà nội ở nhà tôi gọi cửa. Bà già vừa mở cửa vừa hỏi:

- Trung đi học về đấy hở cháu?

Tôi bỗng nói liền:

- Vâng ạ.

Bà nội bảo tôi lấy phần cơm trên chạn xuống ăn. Tôi làm theo lời bà vừa ăm cơm vừa nói chuyện với bà ăn cơm xong bạn tôi về Bà nội lại ngỡ tôi vừa đến khi chúng tôi cười to bà mới biết  nhầm. Thế là bà mắng yêu chúng tôi mấy tiếng. Còn Tóc Xoăn thì cùng về nhà tôi ăn phần cơm của tôi.

ở bệnh viện các bệnh nhân nằm cùng phòng với bố của Tóc Xoăn thì khen.

- Anh có hai đứa con trai thật ngoan.

Bố Tóc Xoăn giải thích thế nào họ cũng không tin đấy là hai đứa bạn không họ hàng thân thích nhiều lúc đi đường một chị y sĩ đã điều trị bệnh dạ dày cho bố Tóc Xoăn mỉm cười với tôi từ xa rồi hỏi:

- Dạo này bố cháu có hay đau nữa không?

Những lúc như thế tôi đành trả lời như chính tôi là Tóc Xoăn thật. Cho đến khi trưởng thành rồi chúng tôi không còn giống nhau như hồi nhỏ nữa đôi người gặp một trong hai đứa chúng tôi vẫn còn nhầm như thế.

Một hôm Tóc Xoăn mang đến nhà tôi hộp thuốc vẽ. Nó bảo đấy là quà của một chú đến may áo ở hiệu mau khâu của bố nó tặng. Chú rất thích những bức vẽ bằng bút sắt của Tóc Xoăn mà chú tình cờ xem được. Rồi chú bảo cháu có hoa tay đấy sau này có thể trở thành hoạ sĩ. Thế là hôm đến lấy áo chú mang lại cho Tóc Xoăn hộp thuốc vẽ.

- Mày cũng có thể trở thành một hoạ sĩ - Tóc Xoăn nói tự tin.

Tôi bị bất ngờ về nhận định của Tóc Xoăn. Nhưng giọng nói tự tin của nó kích thích tôi. vả lại tôi cũng đã vẽ nhiều bức tranh lạ lùng trong vở nháp trên các bức tường. Rồi tôi tin mình cũng có thể trở thành hoạ sĩ miễn là nó cũng thế.

Chúng tôi vẽ hết tờ giấy này đến tờ giấy khác. Hết giấy trắng chúng tôi bóc những bức tranh cũ treo trên tường nhà xuống lật mặt sau mà vẽ. Tranh của chúng tôi có màu sắc tươi sáng người lớn xem cũng phải xuýt xoa khen.

Một hôm chúng tôi mang giấy và thuốc vẽ đi bộ xuống biển. Lần đầu tiên chúng tôi đến với biển. Biển còn lạ lùng hơn biển trong giấc mơ tôi từng mơ thấy Tóc Xoăn vẽ một bức tranh biển gồm những đường thẳng. Bờ cát thẳng với mép biển Biển khơi thẳng với chân trời. Chỉ có chim hải âu và thuyền buồm là nó vẽ đường cong. Còn bức tranh biển của tôi thì toàn đường cong. Biển vòng lên như một trái núi choáng gần hết nền trời. Một con thuyền căng buồm đỏ lướt trên điểm cao nhất của biển. Bụng thuyền và lưng biển tiếp xúc với nhau như hai cung tròn tiếp xúc. Không hiểu sao cùng đứng trước biển hai đứa lại vẽ hai bức tranh khác nhau đến vậy. Một anh thanh niên đi qua thấy chúng tôi vẽ anh dừng lại xem rất lâu. Có lẽ anh cũng mê hội hoạ. Khi chúng tôi vẽ xong anh làm quen với chúng tôi rồi mời hai đứa về nhà anh chơi. Tới nơi chúng tôi mới biết anh là một hoạ sĩ. Nhà anh bày la liệt những bức tranh sơn thuỷ màu sắc sặc sỡ. Có bức lồng trong khung kính mcó bức còn vẽ dang dở. Những bức tranh của anh chúng tôi đã từng trông thấy ở chợ Tết. Và tôi chợt nhớ anh chính là người bán tranh ở chợ Tết.

Nhà hoạ sĩ sung sướng trước sự ngưỡng mọ của chúng tôi. Anh hướng dẫn chúng tôi vẽ tranh sơn thuỷ. Cuối cùng anh cho chúng tôi khá nhiều bột màu các loại một miếng keo dẻo hai chiếc bút lông và mấy tờ giấy Cờrôki. Trước khi chúng tôi từ biệt con người tốt bụng ấy còn nghe anh dặn:

- Các em vẽ hết ngần này đi. Nếu cần thứ gì mang tiền đến anh sẽ mua giùm cho.

Chúng tôi đã làm theo lời anh dặn. Vả chẳng mấy lâu chúng tôi đã vẽ được những bức tranh sơn thuỷ đẹp không kém những bức tranh anh vẽ. Rồi Tết đến nhà hoạ sĩ rủ chúng tôi vẽ nhiều tranh mang ra bày ở chợ. Chúng tôi làm theo anh. Nhưng người ta đữa đến mua tranh của chúng tôi. Năm ấy anh bán tranh một cách khó khăn. Chúng tôi có cảm giác anh không được vui vẻ như trước nữa.

Tóc Xoăn rủ tôi mang tranh đi vào thị xã bán rồi xem thành phố luôn thể. Tôi ao ước đi xem thành phố từ lâu mà chưa có dịp. Thế là chúng tôi sang bến xe thị trấn mua vé xe đi. Mỗi chiếc vé hết năm hào. Xe chạy hơn một tiếng đồng hồ thì đến thành phố. Thành phố người xe đông đúc hàng quán bày la liệt hai bên đường. Chúng tôi mải ngắm nhìn mãi gần trưa mới bày tranh bán ở đầu chợ Vinh. Chỉ một lát bốn chục bức tranh chúng tôi mang đi được bán hết.  Thì ra chúng tôi đã bán giá quá rẻ so với mấy ông hoạ sĩ bày tranh ở chợ.

Chúng tôi mua bánh mì cặp thịt ăn với phở. Lần đầu tiên chúng tôi được ăn như vậy. Cả hai đứa đều rất mê bánh mì cặp thịt. No nê chúng tôi lại tiếp tục dạo chơi khắp các phố. Cửa hàng nào cũng vào mặt hàng lạ nào cũng hỏi. Đến quầy hàng văn hoá phẩm chúng tôi mua mấy cuốn giấy cờrôki vài cân bột màu và một hộp bút lông đủ loại. Trời tối lúc nào không hay. Chúng tôi ngắm thành phố trong ánh điện cho đến khuya. Chợt nhận thấy cần phải ngủ. Chúng tôi đi lang thang ước gì có một nhà quen trong thành phố. Không có ai quen chúng tôi ở đây cả. Hai đứa trải tấm ni lông gói tranh ngủ ở nhà đợi xe. Lúc ấy cả hai đứa đều thấy nhớ mẹ nhớ làng. Sau này tôi đã viết thành thơ ý nghĩ đó trong một bài thơ dài:

Trưa no nê nhìn phố xá trăm màu

Tối tìm chỗ ngủ lang thang nhớ mẹ.

Chẳng biết có phải vì thế không sau đó chúng tôi không vẽ tranh mang đi thị xã bán nữa. Chúng tôi cũng không vẽ trang sơn thuỷ chỉ rủ nhau vẽ người vẽ chân dung. Vẽ các tích cổ trong sách Tam quốc diễn nghĩa sách Tây du ký và Truyện Kiều. Rồi một lần. Tóc Xoăn rủ tôi gửi hồ sơ và tranh thi vào trường Mỹ thuật. Tôi không thích làm nhưng nó thích tôi tán thành. Nhưng người ta chỉ gọi nó. Thế là nó không đi.

Sau đó hai đứa vào bộ đội. Tóc Xoăn vừa tham gia được trận đánh thứ hai thì bị thương nặng. Nó có ý định sẽ trở về thi vào trường Mỹ thuật một lần nữa. Nhưng chưa kịp thực hiện ý định đó một quả bom rơi xuống cạnh hầm và tay cầm bút vẽ của nó bị gãy phải cưa.

Bạn Tóc Xoăn của tôi từ đó quyết định bám làng lấy vợ sinh con và theo nghề thợ may của bố. Tôi tán thành  quyết định của bạn mặc dù rất tiếc là ước mơ của bạn trở thành hoạ sĩ không thực hiện được. Nhưng dù sao mỗi lần trở về thăm làng tôi đều được gặp gỡ người bạn tuổi thơ của mình.

Những cuộc gặp gỡ làm sống dậy bao nhiêu kỷ niệm đã qua. Đối với chúng tôi đó là niềm an ủi lớn.

Và có điều khiến tôi sung sướng hơn nữa tôi lại được xem những bức tranh mới của Tóc Xoăn những bức tranh vẽ về người lính trong cuộc chiến tranh - những bưdcs tranh được vẽ bằng tay trái.

 

 

31. CHIẾN TRANH ĐẾN

 

        Bất đầu là tiếng bom nổ ở phía thị xã cách làng tôi bốn chục cây số. Người ta bảo đó là tiếng sấm trước khi thấy một quầng sáng màu da cam hiện lên phía trời xa. Rồi tiếng loa phóng thanh đầu làng vang lên thông báo số máy bay Mỹ bị bắn cháy. Rồi mấy người công nhân nhà máy gỗ về làng kể chuyện bom đã rơi vào nhà máy của họ như thế nào.

Thanh niên dân quân nghỉ việc ruộng đồng đào giao thông hào quanh làng. Đất mới đắp bờ hào trườn dọc những con đường chính trong làng. Mỗi nhà đều phải đào những chiếc hố tròn ở trong nhà ngoài vườn sâu hơn một mét. Những đội trực chiến phòng không được thành lập. Những khẩu súng trường được phát cho dân quân. Pháo lớn được kéo về làng cùng với người lính. Người ta nhuộm xanh lá cây tất cả những chiếc áo trắng áo lơ. Trong làng ngoài đồng chỉ còn thấy những màu áo quần tối sẫm. Thỉnh thoảng có tiếng ồi già la lối về chiế nón trắng của một cô gái qua đường.

Các trường học đào hào vào tận cửa lớp đắp luỹ chung quanh tường và quét màu lá cây đè lên màu tường vôi trắng. Rồi những cuộc tập dượt báo động phòng không. Những buổi học nghiệp vụ cứu thương. Những túi thuốc phòng không có vẽ hình chữ thập đỏ xuất hiện. Trên những con đường tới trường học sinh không còn đi thành đoàn đông chỉ thấy từng tốp vài ba người đi cách xa nhau. Rồi tiếng kẻng báo động máy bay đến. Rồi tiếng ù ù như xay lúa trên trời cao. Rồi tiếng rít như xé lụa. Tiếng súng lớn súng bé nổ khắp nơi. Tiếng bom rần và kéo dài như sấm làm rung mặt đất. Những đám khói đen bốc lên từ những chiếc cầu đường bộ đường sắt. Cầu sập. Người chết. Tiếng kêu khóc. Tiếng reo hò máy bay cháy... Náo động xóm làng. Rồi tiếng kẻng báo yên. Rồi tiếng kẻng báo động. Chiến tranh đến như thế đấy làm đảo lộn vùng quê thanh bình của tôi. Và trong bài tập làm văn lần đầu tiên tôi thấy mình đã viết những chữ "bom rơi". Vâng bom rơi...

 

 

32. NGƯỜI DỞ TÍNH

 

        Người dở tính là người không bình thường. Hình như làng nào cũng có một người như thế. Cơ quan nào cũng có một người như thế. Và nếu vùng nào quá hiếm hoi rồi cũng có một người như thế đến ở hoặc ghé qua. Nói theo các nhà tâm lý học đó là những người luôn làm cho những người chung quanh mình đột ngột tăng huyết áp. ở Mỹ người ta đã thống kê được rằng cứ trong số mười người thì có một người làm cho chín người kia đột ngột tăng huyết áp. Tỷ lên người không bình thường của nước Mỹ "văn minh" thật là cao.

Hồi còn nhỏ tôi nưhó có một người dở tính thường xuất hiện ở làng tôi. Anh không phải người làng. Làng anh ở bên kia sông nổi tiếng về nghề đan võng cói làng Phú Hậu. Anh thường đến làng tôi trong bộ quần áo bà ba màu nâu sẫm đầu đội chiếc mũ lá rộng vành cũ kỹ chân đi đấy và tay cầm một chiếc cần câu. Miệng anh lúc nào cũng nhai trầu thỉnh thoảng anh nhổ toẹt xuống chân một bãi nước trầu đỏ quánh rồi đưa bàn tay quẹt ngang miệng lau. Hễ thấy anh xuất hiện đầu làng là thấy trẻ con kéo đến xem rồi bất thần chúng chạy toá ra khỏi anh như một đàn vịt. Đấy là lúc anh giơ cần câu lên múa một điệu võ và hét lên một câu như người ta hát tuồng. Lũ trẻ vừa sợ anh vừa thích trêu chọc anh. Sau khi thấy anh thôi múa võ đi đến mép ruộng lúa nước ngoặc một con nhái vào lưỡi câu lũ trẻ lại mon men đến gần:

- Này lũ trẻ con... nghịch... ngợm... ơm... ngợm.

Anh lại hét lên theo một điệu hát tuồng trong khi co chân lên ngang bụng và tay múa động tác võ. Trẻ con hốt hoảng bỏ chạy bán sống bán chết. Khi quay lại nhìn thấy anh đang giật giật cần câu trên ruộng lúa.

Anh đi câu từ đám ruộng đầu làng đến đám ruộng cuối làng nhưng suốt buổi chẳng được con cá nào. Anh lội xuống con mương ven ruộng bới đất bùn ngăn lại tát nước để bắt cá. Trẻ con lấy đất ném xuống bùn nước bắn tung toé lấm bê bết quần áo của anh. Người làng gọi anh là anh Nhiêu chí. Trẻ con cứ hét tên anh lên bất cứ thấy anh ở chỗ nào trong làng:

- Nhiêu Chí ơi... Nhiêu Chí...

Đến trưa cái đói làm anh nhớ bữa và anh ghé vào các nhà cạnh đường.

- Ông bà thương con cho con xin bát cơm - Anh nói giọng đau khổ.

Người ta cho anh khi thì bát cơm với mấy quả cà khi thì dăm củ khoai luộc. Anh không ăn ngay mà bỏ vào cái giỏ mang theo. Khi cái giỏ đã xách nặng tay anh đi ra gốc đa làng lấy thức ăn từ giỏ ra ăn. Xong anh lại ghé vào một nhà nào đấy xin nước uống. Nhà nào không cho anh doạ:

- Ông tưởng tôi sợ ông lắm đấy phỏng? - Vừa nói anh vừa vung cần câu múa một điệu võ. Múa xong anh cười một tiếng nửa hài hước nửa chua chát. Rồi đi sang nhà khác. Anh hay ghé vào nhà tôi xin ăn. Nhà tôi gần đường. Bố mẹ tôi hay cho anh các thức ăn và tôi thì thường giấu mấy củ khoai to bỏ vào túi áo anh.

Có lần anh hỏi mẹ tôi:

- Bà có mua võng không?

- Nhà anh Nhiêu đan võng à? - Mẹ tôi hỏi.

- Mẹ con đan nhiều võng lắm. Võng nhà bà nhiều tao quá rồi. Võng mẹ con đang tốt lắm.

Mẹ tôi nghe nói thế gửi tiền anh mua võng. Nhiêu Chí không cầm tiền.

- Mai mang võng đến con sẽ lấy tiền. - Anh

Ngày hôm sau anh Nhiêu chí mang võng đến. Từ đó anh mua giùm võng cho nhiều người làng.

Bẵng đi rất lâu không thấy anh Nhiêu Chí đến làng trẻ con mất đi một thú vui. Có lúc chúng đứng đầu làng ngóng về phía bên kia bờ sông. Thấy một người nào đó vác cần câu đi ngoài đồng một đứa kêu lên: "Nhiêu Chí chúng mày ơi". Rồi cả lũ bỏ chạy gạt đi như là anh Nhiêu Chí đến thật. Nhưng anh Nhiêu Chí không đến không bao giờ đến làng tôi nữa. Người lớn bảo anh đã chết ốm. Có người lại bảo mới gặp anh dang lang thang ở một huyện khác xa lắm.

Tôi bỗng mong anh Nhiêu chí còn sống còn lang thang ở một nơi nào đó.

 

 

33. MÙA THU

 

        Trời như một chiếc dù xanh bay mãi lên cao. Các hồ nước quanh làng như mỗi lúc một sâu hơn. Nó không còn là hồ nước nữa nó là cái giếng không đáy và ta có thể nhìn thấy bầu trời bên kia trái đất.

Cò trắng đứng co chân trên bờ ruộng đầu ngẩng lên nhìn về chốn xa xăm mơ màng nỗi nhớ cố hương. Còn những con nhạn bay thành đàn trên trời cao như một đám mây trắng mỏng lướt qua thôn làng gieo xuống những tiếng kêu mát lành trong veo sương sớm khiến tim tôi vang lên dịu dàng những câu thơ không nhớ thuộc từ bao giờ:

Trước sân ai tha thẩn

Đăm đăm trông nhạn về

Mây trời còn phiêu dạt

Lang thang trên đồi quê...

Trẻ con lùa bò ra bãi đê. Con đê vàng rực lên màu vàng tươi của đàn bò đủng đỉnh bước. Ngỡ đấy là một chiến tranh đê vàng đang uốn lượn. Cánh đồng lúa xanh mướt dập dờn trong gió nhẹ chúng đuổi nhau mãi đuổi nhau mãi từ ven làng đến tít tắp chân đê.

Trong làng mùa ổi chín quyến ru. Những buồng chuối trứng cuốc vàng lốm đốm. Và đâu đó thoảng hương cốm mới. Hương cốm nhắc người ta nhớ những mùa thu đã qua.

Tôi đứng tựa vai vào cây bạch đàn nghe tiếng gỗ thì thầm những điều thầm kín của mùa thu. Và nhìn lên bờ nông giang vắt qua dòng. Giữa những tốp trẻ con bay lên những ngọn khói xanh lơ. Những đứa trẻ xua xua tay vào ngọn khói và hát câu đồng dao  cổ nghe vui tai.

Khói về rứa ăn cơm với cá

Khói về ri lấy đá chập đầu

Chúng cứ hát mãi hát mãi cho đến lúc những ngọn khói tan biến vào không gian mênh mông. Không gian như một cái chuông lớn vô cùng treo suốt mùa thu âm vang mãi tiếng ca của trẻ con và tiếng động của cây cối đất đai.

Mùa thu. Hồn tôi hoá thành chiếc sáo trúc nâng ngang môi chú bé ngồi vắt vẻo trên lưng trâu. Và mùa thu thổi vang lên những âm thanh xao động đồng quê.