Miền quê thơ ấu [Phần 1]

Tuesday 10th April 2007

Miền quê thơ ấu là bức tranh ghép bằng văn xuôi của tuổi thơ tôi với làng quê yêu dấu. Nó được viết ra sau khi tôi bị TCCT đánh bật khỏi Hà Nội trở về Quân Khu Bốn.  Trong sự đùm bọc của những người đồng đội cũ tôi thực sự sống cùng những ám ảnh tươi đẹp của tuổi thơ chốn làng quê mà viết nên cuốn sách này. Cuốn sách đã đượt Giải thưởng VHNT Cố Đô được nhà xuất bản Kim Đồng đưa vào "Tủ sách vàng" tái bản nhiều lần được nxb Thanh Niên in lại trong Tuyển tập Văn Thơ Nhạc Tuổi Thơ của tôi và đã được trích giảng trong sách giáo khoa phổ thông...

MIỀN QUÊ THƠ ẤU

"Tất cả mọi người lớn đều từng là trẻ con"

                                       XANH ÊXUPÊRY

 

1. GIÁO ĐẦU

        

        Hạt cây vùi dưới đất làm quen với bầu trời bằng mầm non của nó. Tôi làm quen với mọi người bằng chính cuộc sống của tôi. Lại có người biết đến tôi nhờ những bài thơ tôi viết. Những bài thơ của tôi cũng chính là những phần nhỏ cuộc sống mà tôi đã nếm trải. Cũng có khi tôi quen biết một người nào đó nhờ lời giới thiệu của người thứ ba hoặc qua sự tự giới thiệu của họ. Đối với tôi sự giới thiệu thật là cần thiết.

Hồi nhỏ tôi thường đi xem diễn chèo ở sân làng. Thời gian chờ đợi mở ra tấm màn nhung trước sân khấu thật là dài. Mắt tôi nhìn như dán vào tấm màn nhung màu đỏ mận càng nhìn càng mỏi mắt lẫn hồi hộp. Cho tới lúc một hồi trống rung dài giòn giã vang lên từ phía sau sân khấu tấm màn nhung từ từ mở. Và tất cả những gì hằng giấu kín sau tấm màn nhung ấy bỗng hiện ra trong vòng sáng trong suốt như nó vừa ở một thế giới khác hiện về. Trong vòm ánh sáng ấy một người con gái tóc vấn trong khăn màu hai tay nàng chiếc quạt lụa che ngang mày thân hình uyển chuyển trong bộ quần áo tứ thân ba màu lướt nhẹ ra sân khấu. Có lẽ nói cô trôi ra sân khấu thì đúng hơn bởi đôi chân cô không hề cất bước mà toàn thân thì đung đưa mềm mại như ngồi trên một chiếc thuyền du ngoạn trên hồ nước mênh mông. Giữa khoảng không gian huyền ảo ấy giữa sự im lặng chờ đợi của vũ trụ tiếng cô gái cất lên nghe như âm vang của tiếng chuông đồng.

- Này bà con ơi!...

Tiếng cô ngân vọng vào mông lung. Và tiếng của mông lung đáp lại:

- Sao... ao... sao?...

Cô gái như mạnh bạo dần lên sau khi tiếng gọi của mình đã được đáp lại dù sự đáp lại chỉ là một tiếng hỏi. Và giọng vang trong còn giấu chút e ấp của nó lại vang lên:

- Tôi ra đây có phải xưng danh không nhỉ?

Tiếng của mông lung nghe gần gũi hơn như là nó toát ra từ chính trái tim thơ ấu của tôi:

- Không xưng danh thì biết là ai!

Đến lúc này chiếc quạt che ngang mày cô gái từ từ xếp lại. Khuôn mặt trái xoan xinh đẹp của cô hiện ra rực rỡ trong vòm ánh sáng trong suốt. Cặp môi hình tim của cô nở một nụ cười duyên dáng và quyến rũ. Tôi có cảm giác là cô gái và mông lung đang thực sự xích lại gần với nhau. Cô bắt đầu giới thiệu mình với ánh sáng trong suốt đang run lên vì hồi hộp với khí trời mát lành đang phấp phỏng bập bềnh với những trái tim chung quanh tuổi thơ tôi.

Bố tôi bảo đó là màn giáo đầu đêm diễn giống như cuốn sách có lời đề tựa giống như trước ngôi nhà tôi có chiếc cổng tre muốn vào nàh thì phải đi qua cổng. Còn tôi tôi nghĩ rằng tuổi thơ chính là đoạn giáo đầu cho cả một đời người. Bây giờ tôi đã lớn khôn đã trải qua nhiều công việc của người lớn nhưng tôi không thể quên tuổi thơ tôi với miền quê cái miền quê mở ra núi rừng và thành phố tôi...

 

 

 

2. TRÊN CAO CHIM SẺ ĐÃ TRÔNG THẤY

 

            Không hiểu vì sao tôi thức dậy rất sớm. Sương mù như tấm khăn voan mỏng màu sữa bay la đà trên những khóm cây thấm quanh vườn trùm lấp cả một khoảng sân. Tôi bước đến đâu sương mù tan loãng ra đến đấy. Và tôi chợt nhận ra trên những ngọn cau cao chim sẻ thi nhau cất tiếng hót của hội hè. Tôi lắng tai nghe và nghĩ rằng chim sẻ đang hát. Dàn đồng ca chim sẻ khi bổng khi trầm khi nhanh khi chậm xôn xao vòm không gian trên trời cao. Chúng đang hát về cái gì vậy? Tôi không thể biết được. Nhưng rõ ràng là chúng đã trông thấy một cái gì đó cái mà tôi không thể cùng trông thấy được. Chim sẻ ở tít trên những ngọn cau cao còn tôi thì thấp lè tè trên mặt đất như một cái nấm.

Tôi ngước nhìn về phương đông sau vòm cây xanh thẫm bỗng nhô lên nửa vành mũ màu đỏ. Ai đội mũ đỏ nấp sau vòm cây và đang từ từ đứng lên thế kia? Chiếc mũ đỏ to lớn nhô dần lên trên nền trời buổi sớm. Cuối cùng chiếc mỹ đỏ bay lên khỏi vòm cây. Không có ai nấp sau vòm cây cả và khối đỏ ấy cũng không phải là chiếc mũ. Đấy là vầng Mặt Trời. Vầng mặt trời giống một chiếc mâm đồng đỏ bay từ từ chiếm lĩnh nền trời xa rộng. Chim sẻ càng cất cao giọng chiếc mâm đồng đỏ càng nhích dần lên.

Vầng mặt trời đã lên từ bao giờ? Chắc chắc là nó đã nhô lên kỏi mặt biển trước khi nhô lên khỏi vòm cây cuối vườn nhà tôi. Và hẳn là đàn chim sẻ từ trên những ngọn cau cao đã trông thấy mặt trời mọc lên phía chân trời khi tôi còn đang ngủ. Bởi chim sẻ đã ca hát trước khi tôi thức dậy. Tôi đinh ninh như vậy chim sẻ đã trông thấy mặt trời lên trước tôi. Và trái tim thơ trẻ của tôi bỗng vang lên một bài ca không lời. Bài ca của tôi hoà với bài ca của những con chim sẻ trên trời cao. Bài ca về mặt trời. Về cái "mâm đồng đỏ".

 

 

3. BUỔI SÁNG "MÂM ĐỒNG ĐỎ"

 

          Tôi cứ lẩm nhẩm mãi bài ca Mâm đồng đỏ trên đường đi tới trường. Thoạt đầu tôi không tìm được từ ngữ để diễn đạt những cảm xúc chứa chan của mình về sự phát hiện ra vầng mặt trời như chiếc mâm đồng đỏ. Tôi chỉ biết hát lên có ba từ: "Mâm đồng đỏ mâm đồng đỏ!.. Nhưng rồi cuối cùng không hiểu từ đâu từ ngữ đã bay đến vang lên qua nhịp đập tim tôi. Và trí nhớ của tôi đã ghi giữ lại được bài ca ấy. Bài ca cho đến giờ tôi cũng không hiểu vì sao nó lại như vậy.

Mâm đồng đỏ. Mâm đồng đỏ

Suốt đêm tắm biển

Làm nước biền sôi

Ngày trở về trời

Mâm đồng không nguội

Mâm đòng đỏ chói.

Mặt trời. Mặt trời...

Tôi hát đi hát lại những lời hát ấy đọc con đường qua cánh đồng thơm ngào ngạt hương lúa sữa. Khi cánh đồng lùi lại sau lưng là lúc tôi yên tâm mình sẽ không bao giờ quên những lời hát ấy.

Ngồi trong lớp học đầu óc tôi luôn vang lên âm thanh và lời ca bài Mâm đồng đỏ. Tôi không còn nghe lời thầy giáo đang say sưa giảng bài tập đọc. Thầy giáo càng giảng giải tôi càng không hiểu gì về những lời của thầy. Bài ca Mâm đồng đỏ thực sự đã lôi cuốn niềm say mê của tôi. Tôi lấy làm đắc ý bởi sự phát hiện kỳ diệu của mình về mặt trời: Suốt đêm tắm biển - làm nước biển sôi và sau một đêm tắm biển mặt trời vẫn không bị nước làm tắt đi những ngọn lửa của mình. Không thể ghìm nổi sung sướng tôi liền giải bầy với thằng bạn "tóc xoăn" ngồi cạnh. Tóc xoăn quay lại trố mắt nghe tôi nói. Bỗng thầy giáo ngừng giảng một lát trố mắt nghe tôi nói. Bỗng thầy giáo ngừng giảng một lát. Rồi thầy gọi tên tôi vẻ nghiêm khắc. Thầy ra cho tôi một câu hỏi về bài tập đọc thầy giảng. Tôi chỉ trả lời ú ớ. Được mấy câu chẳng đâu vào đâu. Thế là thầy cho tôi một "con ngỗng" xách nặng tay và bảo tôi không được nói chuyện riêng trong giờ học. Giọng thầy nghe không được nhẹ nhàng cho lắm.

Từ đó tôi ngồi im thít cho đến cuối giờ học. Nhưng tôi vẫn không nghe hết được những lời thầy giảng. Trong đầu tôi khi thì hiện lên một "con ngỗng" khi thì hiện lên cái Mâm đồng đỏ. Những hình ảnh ấy cứ chồng chéo vào nhau phát ra nhiều màu sắc khi tối khi sáng. Thế đấy tôi đã phát hiện ra cái buổi sáng Mâm đồng đỏ như một nhà thơ tài năng và tôi đã được thầy ban thưởng bằng điểm 2 trong giờ tập đọc!

 

 

4. LỜI KHUYÊN

       

           Hầu như trong bữa ăn người ta không mấy khi nhắc đến những chuyện buồn. Có lẽ như thế thì bữa ăn sẽ ngon lành hơn. Bố tôi thường nói: "Trời đánh tránh bữa ăn". Thỉnh thoảng mẹ tôi cũng nói vậy. Tôi không hiểu cặn kẽ câu nói ấy chỉ mang máng rằng ông trời có quyền hành to nhất trên thế gian muốn mưa thì mưa muốn nắng thì nắng muốn râm mát thì râm mát và có thể giáng sấm sét xuống bất cứ nơi nào ông ta muốn! Vậy mà còn nể con người trong bữa ăn. Thế mới biết trong bữa ăn con người được coi trọng đến chừng nào. và nếu có ai kể khuyết điểm của mình trong bữa ăn chắc sẽ dễ dàng được thông cảm. Tôi nghĩ vậy và đem chuyện mình bị điểm 2 trong giờ tập đọc kể cho bố mẹ nghe giữa bữa cơm trưa.

Quả là tôi không lầm: Nghe xong mẹ tôi lộ vẻ lo lắng thương cảm. Giá kể vào lúc khác thế nào tôi cũng được một bài học đích đáng của sự nổi nóng. Mẹ nhìn tôi với cái nhìn nửa trách móc nửa âu yếm. Rồi mẹ khuyên tôi bằng giọng dịu dàng nhã nhặn. Lời khuyên của mẹ đại loại  là đến trường phải biết kính thầy yêu bạn; tôn trọng người khác tức là tôn trọng minh; kẻ nói phải có người nghe; học trò thì phải học thật giỏi không được thua chị kém em v.v... Rồi mẹ kết luận.

- Từ nay về sau con không được như thế nữa!

Tôi chăm chú nghe mẹ tôi nói khiến mẹ rất hài lòng. Nhưng thực ra tôi đang đợi ý kiến của bố tôi. Tôi biết ý kiến của bố tôi thường làm cho cả tôi lẫn mẹ tôi ngạc nhiên. Ông không nhiều lời nhưng mỗi lời nói của ông chắc như đinh đóng cột. Trong nhà mẹ tôi hay tranh luận với bố tôi và bao giờ bà cũng không còn lý lẽ để tiếp tục cuộc tranh luận. Những lúc như vậy bà phải công nhận là bố tôi đúng. Rồi bà tự an ủi như cái đúng thuộc về bố tôi là tất nhiên. "Thế mới gọi là đàn ông là trụ cột trong nhà!" Bà vẫn thường nói thế. Mà bố tôi đúng thật. Chỉ riêng việc chọn cây trồng cho mảnh vườn nhà cũng đủ để tin rằng bố tôi đúng. Mùa nào mẹ tôi trồng loại cây bố tôi bảo mùa đó đều thu về một món tiền lớn. Có mấy mùa bố tôi chiều ý mẹ tôi thế là mất toi cả tiền mua cây giống. Mùa thu năm ngoái chẳng hạn bố tôi bảo không trồng cà chua vì khả năng thời tiết nhiều sương muối mẹ tôi lại bảo cà chua sẽ lãi lớn. Thế là cả vườn cà chua đang lên tươi tốt bỗng úa vàng rồi lụi chết tận gốc. Sau bận đó mẹ tôi dường như thay đổi tính nết rất rõ. Bà ít tranh luận với chồng và thực hiện tất cả các ý kiến của chồng một cách tự nguyện gần như tuyệt đối. Còn tôi thì càng phục bố tôi. Chính vì thế tôi rất nóng ruột đợi ý kiến của ông về cái buổi sáng Mâm đồng đỏ. Ông không nói ý kiến của mình ngay mà bảo tôi đọc lại bài ca mà tôi đã bịa ra. Tôi đọc lại một cách trôi chảy. Nghe xong ông hỏi.

- Ai đã dạy con bài ca đó?

- Chẳng ai dạy con cả. Con đã bịa ra.

Nghe tôi trả lời một cách tự tin ông im lặng. Tôi có cảm giác là ông đang hài lòng về một cái gì đó. Rồi bố tôi nói:

- Con biết quan sát và có óc tưởng tượng đấy. Ai lười quan sát người ấy sẽ thiếu sự nhạy cảm. Tính nhạy cảm rất cần cho con người. Con người phát minh ra cái này cái nọ trước hết là nhờ ở tính nhạy cảm và óc tưởng tượng. Đáng lẽ con phải học giỏi văn. Vậy mà điểm văn của con bao giờ cũng thua điểm toán. Nguyên nhân là con chưa biết chú ý phát huy năng khiếu của mình. Đúng không nào?

Không mấy khi bố tôi nói dài đến vậy. Khi ông nói dài giảng giải cặn kẽ với tôi hẳn đó là việc hết sức cần thiết. Tôi nghiệm ra thế và cảm động đáp lời ông:

- Vâng đúng thế đấy ạ.

- Muốn phát huy năng khiếu của mình người ta phải biết ước mơ - Bố tôi nói tiếp  - Con người không có ước mơ thì chẳng phát huy được một cái gì hết. Nhưng muốn gì thì muốn trước tiên con phải làm một người học trò giỏi đã.

Tôi lắng nghe như uống từng lời. Mẹ tôi cũng im lặng lắng nghe. Nhiều khi im lặng đồng nghĩa với đồng tình. Có khi im lặng còn là một lời khen một sự khuyến khích.

Bữa cơm được kết thúc vui vẻ. Tôi rót nước vào chiếc cốc thuỷ tinh trong suốt cho bố và chợt nhận ra bọt nước sủi lên từ đáy cốc. Tôi nhận ra điều đó một cách tự nhiên không hề nghĩ là sự quan sát của mình có liên quan với những lời khuyên của bố vừa rồi.

 

 

5. CÂY BÀNG

 

        Trước ngõ nhà tôi có một cái giếng làng. Bên giếng có một cây bàng già. Cây bàng bao nhiêu tuổi tôi không biết. Khi tôi trông thấy cây bàng lần đầu tiên thì thân nó đã có những chiếc bướu trơn nhẵn bởi sự leo trèo của con người mà có lẽ nhiều nhất là sự leo trèo của trẻ con trong làng. Tôi đã cùng lũ trẻ trèo lên cây bàng những đêm trăng trong gió mát. Khi ấy người lớn trò chuyện cười đùa chung quanh giếng nước cùng với tiếng gàu va chạm vào thành giếng. Còn ở trên cao lũ trẻ chúng tôi ngồi lẫn trong lá bàng sum suê nô đùa hoặc kể cho nhau nghe những câu chuyện cổ tích. Có lúc vì quá nghịch ngợm chúng tôi đã làm cho cành bàng nhún nhảy. Và một lần chúng tôi đã nhún quá đà cành bàng không thể chịu được phát ra tiếng kêu răng rắc rồi lìa khỏi thân cây. Lũ trẻ chúng tôi cùng cành bàng rơi từ từ xuống mặt đất như một chiềc dù. Khi cành bàng vừa chạm đất không ai bảo ai chúng tôi ù té chạy thoát khỏi cây bàng. Một lúc sau đó khi đã trấn tĩnh lại được chúng tôi quay về cây bàng. Nhưng không thấy cành bàng gãy đâu nữa. Một bà già khó tính hay quát nạt trẻ con ở gần đấy đã kéo cành bàng về sân nhà mình. Việc làm của bà chắc là không vô ích. Khi cành bàng khô bà sẽ cho nó vào bếp.

Đứng từ xa trông cây bàng giống một cái tháp. Sau khi bị gãy một cành cây bàng giống cái tháp bị vỡ một mảnh lớn. Mùa đông lá bàng chuyển màu sẫm nâu. Rồi một buổi sáng tôi bỗng thấy cây bàng rực lên màu đỏ như lửa. Ngọn lửa khổng lồ ấy cháy đỏ suốt hàng tuần. Ngoài đường trời rét hơn trong nhà. Tôi đứng dưới gốc bàng thấy mình được sưởi ấm. Có lẽ cây bàng đã tự đốt mình lên để chống lại giá rét mùa đông? Nhưng rồi gió bấc thổi qua làm rụng xuống những mảnh lá màu lửa. Lá bàng rơi xuống lật tung trong gió như lưu luyến vĩnh biệt cành cây nơi nó đã sống rtọn một đời làm lá. Khi chiếc lá cuối cùng rụng xuống xây bàng như một người cởi trần đứng giữa gió mưa lạnh giá. Cây bàng cứ đứng vậy chống đỡ cả mùa đông. Mùa xuân về thời tiết trở nên ấm áp và cây bàng nhú ra muôn vàn lộc non. Hầu như suốt mùa đông cây bàng đã giấu trong nó tiềm tàng màu xanh non của sự sống. Đến mùa hè lá báng to lớn và cứng cáp chúng kết giao với nhau như một mái nhà được lợp toàn lá cây. Những ngày nắng như đổ lửa cây bàng đứng đội nắng trời. Còn vòm bóng mát của nó thì sẻ chia cho bao người ghé gốc bàng tránh nắng. Chim chóc rủ nhau về ngọn bàng họp chợ. Tiếng chim nghe thơm mùi lúa chín đồng quê.

Tôi đã gặp nhiều cây bàng ở nhiều vùng quê khác nhau nhưng mỗi lần gặp gỡ như vậy tôi lại nhớ cây bàng trước ngõ nhà tôi bên cạnh cái giếng làng. Không có cây bàng nào giống cây bàng của tôi; cây bàng bị lũ trẻ chúng tôi làm gãy mấy một cành. Tôi nhớ nó như nhớ người bạn tốt của tôi đã bị chiến tranh cướp mất một cánh tay.

 

 

6. MẢNH HỒN LÀNG

 

         Từ ngày làng tôi có phong trào đào giếng gia đình cái giếng làng trước ngõ nhà tôi bỗng thưa người hẳn đi. Tôi chỉ gặp ở giếng làng những người đến tắm ở đấy có nhà tắm. Tôi cũng thích tắm ở đây nhà tắm có thùng chứa nước cao đổ nước đầy thùng chứa mở nút vòi (vòi thùng làm bằng chiếc cổ chai) chúi đầu vào đó nước tuôn xuống thoả thích. Nước giếng làng mát ngọt lạ lùng không lờ ợ như nước giếng nhà tôi. Mỗi lần om nước chè xanh bố tôi lại bảo tôi ra giếng làng xách về một gầu.

Những mùa nắng hạn kéo dài tất cả các giếng gia đình đều cạn. Giếng nhà tôi đào sâu bằng giếng làng cũng cạn. Người trong làng lại đổ ra đây gánh nước tắm giặt. Vậy mà mực nước giếng làng chỉ vơi đi một ít. Bố tôi bảo giếng làng có mạch nước tận trên nguồn. Thật kỳ lạ nhiều anh chàng vô ý đánh rơi gàu đã lặn xuống giếng tìm và anh nào cũng quả quyết là dưới lòng giếng có một mạch nước khổng lồ. Nước đùn lên mạnh đến nỗi không thể dùng bàn tay bít nó lại được. Những người chưa lặn xuống giếng một lần như tôi   đều tin điều đó niềm tin không ai có thể làm lung lay được.

Những lúc vắng người tôi cùng vài đứa bạn chơi cạnh giếng và thường soi bóng mình vào đấy. Chúng tôi thấy mình hiện lên trong vòm trời xanh ngắt. Cái bóng cười với tôi chau mày với tôi. Khi rời khỏi giếng tôi có cảm giác là bóng mình vẫn ở lại trong đó để rồi mỗi lần thấy nhớ tôi đến nhìn vào giếng và gặp lại bóng mình.

Tôi gọi giếng là mảnh hồn làng. Mảnh hồn làng không bao giờ cạn nó mãi mãi đầy để chia về mọi nhà trong mùa nắng hạn. Tôi ước hôn tôi mãi trong mát ngọt ngào và đầy ắp như nước giếng làng tôi.

 

 

7. CÂY BÔNG BỤT NỞ HOA

 

       Tôi rất thích hai cây bông bụt già cuốn thành vòm cổng nhà ông Đành. Ông Đành cũng đã già có lẽ ông già hơn cả hai cây bông bụt nhà ông - ông đã trồng hay cây bông bụt ấy. Biết tôi thích hoa bông bụt mỗi lần thấy tôi đứng ngắm những bông hoa đỏ như tiết gà ông Đành lại ra hái tặng mấy bông. Tôi cảm ơn ông rồi chạy về nhà cắm vào chiếc bình gốm trên bàn học của mình. Rồi một lần tôi sang nhà ông Đành chơi. Mùa hoa bông bụt đã tàn. Hai cây bông bụt cuốn vòm cổng nhà ông vơi gần hết lá xanh trông gầy guộc hẳn đi. Ông Đành hỏi tôi:

- Cháu có thích trồng bông bụt không?

- Thưa ông có ạ.

- Ông sẽ cho cháu hai cành về trồng. Từ lâu ông không cho ai vì ông không muốn chặt cành cây mình đã  trồng. Nhưng cháy là người biết quý hoa ông cho cháu.

Nói xong ông Đành cầm chiếc mác nhọn thật sắc chiếc mác ông vẫn dùng để vót nan đan nơm úp cá đi ra cổng. Ngắm hai cây bông bụt một hồi lâu rồi ông đẵn cho tôi hai cành bẫm bạp. Ông đưa cho tôi và dặn:

-  Cháu nhớ hơ lửa chỗ vết dao cắt trước khi trồng.

Về nhà tôi trồng hai cành bông bụt của ông Đành hai bên cổng sân. Bố tôi giúp tôi đào hốc và rắc đất mùn chung quanh. Mưa xuân làm những cành bông bụt bật lộc xanh. Rồi một ngày hai cành bông bụt tôi trồng đã thành cây lá sum suê che lấp những cành nhỏ. Tôi mong cây chóng lớn để rồi cũng sẽ cuốn nó thành vòm cổng như cổng nhà ông Đành. Nhưng trước hết tôi mong hai cây bông bụt của tôi nở hoa.

Một buổi sớm tinh mơ tôi tỉnh dậy bởi tiếng con Vàng nhà tôi sủa đầu ngõ. Không hiểu vì sao tôi bỗng thấy lo lắng sợ ai đó vào đào mất hai cây bông bụt tôi tròng. Tôi bật dậy khỏi giường chạy ra sân. Không thấy bóng người. Con Vàng vẫn sủa. Nó vừa dủa vừa chạy luýnh quýnh quanh hai cây bông bụt. Tôi nhìn theo đầu con Vàng và chợt trông thấy những bông hoa đỏ nở tung. Hay cây bông bụt của tôi đã nở lứa hoa đầu tiên.

Tôi khoe ngay với bố mẹ. Bố mẹ cùng tôi ra ngõ xem những bông hoa bông bụt mới nở. Ăn sáng xong tôi chạy sang nhà ông Đành. Ông Đành đang ốm nằm trùm chăn trên giường. Còn hai cây bông bụt già của ông không hiểu sao lại chẳng nở hoa nào. Tôi báo ông biết là hai cây bông bụt ông cho đã nở hoa. Ông Đành nghe vậy mở to mắt vui sướng. Có lẽ ngày xưa khi hai cây bông bụt ông trồng nở lứa hoa đầu tiên ánh mắt ông cũng lộ vẻ vui sướng như vậy. Ông Đành mỉm cười với tôi. Trong nụ cười của ông tôi đọc được một lời khen. Bỗng tôi hỏi ông:

- Ông ơi sao hai cây bông bụt trước cổng nhà ông không nở hoa nữa?

Ông Đành buồn rầu nói giọng đứt quãng:

- Nó... quá... già rồi... ồi... cháu... ạ!

Hai hôm sau ông Đành qua đời. Bố tôi đẵn một tàu dừa lách gân bẹ dừa còn dính những chiếc lá đã xén đền cuốn thành vòng tròn làm chiếc vòng hoa cho ông Đành. Tôi nói với bố:

- Con sẽ hái bông hoa bông bụt của con cắm lên vòng hoa viếng ông Đành bố nhé.

Bố tôi gật đầu tán thành ngay. Khi tôi cắm những bông hoa lên chiếc vòng hoa bố tôi nói như nói với chính mình:

- Người quá cố thì không trở về được nhưng những cây bông bụt của con thì sẽ lại nở hoa Mùa sau sẽ nở hoa nhiều hoa hơn mùa này.

Tôi cùng bố tôi mang vòng hoa sang viếng ông Đành. Con Vàng nhà tôi chạu theo khi nó ở phía sau khi nó ở phía trước chúng tôi. Con Vàng vừa chạy vừa kêu ứ ứ trong cổ như khóc.

 

 

8. KÈN TỔ SÂU

 

        Trong làng có một ông già chuyên thổi kèn đám ma. Mỗi khi có người chết người ta lại chạy đến nhờ ông thổi kèn. Ông bảo họ về trước ông sẽ đến ngay. Quả là người ta không phải đợi ông lâu. Người đi mời vừa về được một lát ông đã bươc svào nhà tay xách một cái tráp một cái cồng nhỏ và hai chiếc xập xoang bằng đồng giống như nắp vung đất. Việc đầu tiên ông bảo người nhà rót cho một chén rượu không phải để uống. Ông mở tráp lấy chiếc kèn đồng đặt cẩn thận lên nắp tráp rồi mở chiếc ống tre bằng ống tăm ra ông lấy từ trong ống tre hai cái tổ sâu hình phễu bé tí ngâm nó vào chén rượu Nong ông lấy ra vẩy vẩy cho khô rượu ông bỏ trở vào ống tre một cái còn mọt cái cắm vào đầu chiếc kèn đồng ông phồng má thổi thử một hơi. Chiếc kèn phát ra những tiếng kêu não nề. Những người mềm yếu không thể không ứa nước mắt khi nghe tiếng kèn của ông. Thổi thử kèn xong ông đậy tráp lại rồi bảo người nhà đổ chén rượu vừa tẩm tổ sâu rót cho ông một chén khác. Chén này thì ông uống. Uống một hơi cạn. Trên tấm chiếu đã trải giữa nhà. Ông ngồi xếp hai chân vào nhau và bắt đầu thổi kèn.

Tiếng kèn của ông vang lên  một giai điệu quen thuộc. Người hiểu biết lễ nhạc có thể phân biệt được điệu kèn của ông thổi là điệu Nam ai hay Nam thương. Còn những người nhà của người quá cố dù không phân biệt được điệu kèn gì họ cũng oà lên khóc thống thiết theo tiếng kèn ông thổi. Tiếng kèn ông vang lên trong tiếc khóc than khi thì tiếng khóc át mất tiếng kèn khi thì tiếng kèn bay vút lên át tiếng khóc. Khoảng mười phút ông lại nghỉ một lát. Tiếng khóc cũng lắng xuống. Khi đủ thời gian để lấy lại sức ông lại nâng kèn lên thổi. Ngón tay ông vừa bấm được mấy nốt trên thân kèn đồng tiếng than khóc lại ào lên... Cứ như thế ông thổi kèn suốt đêm bên cạnh người chết.

Tiếng kèn ông vang lên trên đường đưa tiễn người chết đến nơi yên nghỉ cuối cùng. Cho đến khi đám tang trở về vẫn nghe văng vẳng tiếng kèn não nề của ông.

Người ta bảo: "Sống cờ đèn chết kèn trống". Có lẽ vì thế mà có đám tang trong làng vào lúc ông bị ốm đau không đến thổi kèn được ông rất ân hận. Ông thường đến nhà xin lỗi gia đình người chết về sự vắng mặt của mình.

Bọn trẻ chúng tôi thường được ông nhờ kiếm tổ sâu tren những cây phượng trước sân đền làng. Những lúc như vậy chúng tôi trèo ra cuối những cành phượng tìm tổ sâu. Tổ sâu bền như được dệt bằng một thứ sợi màu xám cực tốt. Chúng tôi ngồi bên cành phượng và thổi vang lên những tiếng kèn tổ sâu không ra bài gì cả. Nghe tiếng kèn lũ trẻ trong làng chạy ra và trèo lên cây phượng mỗi lúc một đông. Và hàng chục đứa trẻ cùng thổi kèn lên tạo thành một bản hoà tấu kèn thật vui tai.

Tôi không thể nào tự giải thích được tại sao tiếng kèn của ông lão thổi kèn cứ buồn rượi còn tiếng kèn của lũ trẻ chúng tôi lại vui vẻ náo nhiệt. Có lần tôi đã cố học điệu kèn buồn của ông nhưng rót cuộc chỉ làm cho cả lũ và cả chính tôi cười vang như nắc nẻ.

 

 

9. HOA XƯƠNG RỒNG

 

        Có những loài cây mà ta không thể tin là nó sẽ nở hoa. Tôi đã từng tin như thế đối với những cây xương rồng trồng làm hàng rào quanh vườn nhà tôi. Những cây xương rồng không hề có lá thân có hình ba cạnh mọc sít vào nhau trông xa giống như một bờ rào được dựng bằng đá xanh xám. Thân nó chẳng khác gì những lưỡi dao mòn vẹt không đều tạo thành đường lượn gồ ghề và ở đỉnh những đường lượn ấy đâm ra một chùm gai nhọn ngắn. Tôi đã giẫm phải những chiếc gai xương rồng khi mải bắt chuồn chuồn đậu trên bờ rào. Phải lể nó ra khỏi bàn chân ngay không thì bước đi sẽ đau nhói. Những lúc như vậy tôi đâm ghét cây xương rồng và càng tin là nó không bao giờ nở được hoa. Vậy mà cây xương rồng đã nở hoa. Suýt nữa thì tôi đã đái lên những bông hoa xương rồng. Lúc đấy tôi vừa thức dậy rời giường ngủ chạy ra bờ sân mắt nhắm mắt mở. May mà tôi đã kịp nhận ra những đốm vàng như những núm hoa đeo tai của phụ nữ đậu đầy bờ cây xương rồng. Những đốm hoa vàng thật tuyệt diệu ngỡ như nó không thể nở ra từ những cây xương rồng đầy gai nhọn kia mà đấy là thứ vàng trang sức của một hàng tiên từ trên trời đêm qua đã bí mật rắc xuống. Tôi đến gần bẻ một bông nhưng chùm gai tự vệ đã nhanh chóng đâm vào ngón tay đau nhói. Tôi quên ngay cảm giác đau đớn gai đâm đi nhanh quanh vườn nhìn ngắm một cách sung sướng những bông hoa lạ lùng vàng rực. Tất cả những cây xương rồng của nhà tôi đã nở hoa!

Tôi chợt nhớ tới bờ cây xương rồng nhà thằng bạn Tóc Xoăn. Những cây xương rồng của nó có nở hoa như của nhà tôi không? Tôi chạy nhanh sang nhà thằng bạn. Bờ cây xương rồng nhà Tóc Xoăn cũng nở rực rỡ hoa vàng. Tóc Xoăn nghe tôi gọi chạy ào ra khỏi nhà reo lên:

- Hoa xương rồng! Trời ơi hoa xương rồng vàng!

Chúng tôi kéo nhau đi xem những bờ cây xương rồng trong làng. Càng đi phái đoàn chúng tôi càng đông đúc. Tất cả xương rồng trong làng đã nở hoa. Có một người nào đó đọc to một câu đồng dao. Câu đồng dao lần đầu tiên tôi nghe thấy và  không bao giờ quên. Câu đồng dao nói về hoa xương rồng nói về Tết nói về người lớn và trẻ con:

Hoa xương rồng nở Tết đến sau lưng

Con nít thì mừng người lớn thì lo...

Thế là Tết sắp đến Hoa xương rồng báo cho người ta biết là Tết sắp đến. Hoa xương rồng là sứ giả của ngày Tết. Trẻ con chúng tôi sẽ buồn biết bao nếu đợi mãi mà không thấy chàng sứ giả khoác áo vàng rực rỡ ấy trở về.

- Xương rồng lại sắp nở hoa rồi - Mỗi lần nói với nhau như vậy là mỗi lần lũ trẻ chúng tôi đang mong Tết đến.

 

 

10. THÊM MỘT DẤU HIỆU BÁO TẾT

 

        Đấy là tiếng nổ đầu tiên của pháo diêm do một đứa trẻ nào đó gây nên. Tiếng nổ đầu tiên ấy có sức kêu gọi rất lớn những tiếng nổ khác. Lũ trẻ thi nhau làm pháo diêm mà linh kiện chủ yếu gồm một nắp van xe đạp bằng đồng một chiếc đinh bằng đầu và một đoạn tre hóp làm thân pháo. Còn đoạn dây cao su và diêm thì nhà nào chẳng có. Khi thuốc diêm đã được nhồi vào nắp van và đinh cắm được giữ ngay ngắn bởi dây cao su chiếc pháo diêm tung lên trời xoè mảnh bìa cứng như đuôi máy bay phản lực rơi xuống đầu đinh chạm vào sân gạch phát ra tiếng nổ chói tai. Đứa trẻ nào cũng có một chiếc pháo diêm như vậy. Điều đó khiến những bà già thường phải giật mình lá ó còn những người có xe đạp thì bỗng ngạc nhiên khi thấy những nắp van của mình không cánh mà bay...

Càng gần Tết tiếng pháo diêm càng nổ dày đặc trong làng. Không ai có thể ngăn được.

 

 

11. CÁNH ĐỒNG VÀNG

 

        Tôi thả trâu ngoài bờ đê. Một mình lên ngọn đê ngồi ngắm cánh đồng. Cánh đồng vàng rực trong nắng chiều hanh heo. Cả đồng lúa đang chín tới. Hình như chúng chen lấn nhau mà chín.

- Đừng có chen! Đừng có chen! - Những bông lúa kêu lên. Và những bông lúa khác thúc giục:

- Chín nhanh lên! Chín nhanh lên.

Tôi lắng nghe tiếng xôn xao cánh đồng. Những âm thanh ấy tác động thật mạnh mẽ tốc độ chín vàng của lúa. Mới đây thôi đồng lúa phơi một màu vàng chanh còn bây giờ nó đã rực lên màu vàng cam rồi. Mặt trời từ từ trôi về phía những dãy núi mờ xa. Dường như đồng lúa và mặt trời đang có một sự đua tài thầm kín nào đấy. Ai sẽ thắng? Và thắng cái gì mới được chứ? Có những điều không cần phân biệt tuyệt đối. ở đây trong lúc này có lẽ cũng cần như vậy. Không thể xác định là thắng cái gì. Chỉ cần cảm thấy là giữa cánh đồng và mặt trời đang có một cuộc thi tài thế thôi.

Mặt trời càng xuống thấp cánh đồng càng dâng lên Màu vàng dâng lên trải ra mỗi lúc một rộng giống như toàn bộ cánh đồng là một hồ nước mênh mông màu vàng chói. Cánh đồng bập bềnh bập bềnh.

Những con chim chìa vôi bay dập dờn trên đồng lúa. Chúng lượn vòng tròn một lúc rồi vụt bay lên cao với đôi hình tam giác. Đàn chim bụng trắng ấy bỗng chuyển màu vàng lấp loáng rồi hoá thành những chấm đen bay về phía mặt trời lặn. Mặt trời vẫn lặn chậm rãi xuống chân trời. Tôi có cảm giác mặt trời sẽ rơi xuống cánh đồng và tôi có thể chạy đến chỗ nó rơi xuống một cách dễ dàng. Nhưng đấy chỉ là cảm giác thì đừng hy vọng kiểm tra nó bằng máy móc dù là máy móc tinh vi.

Giữa màu vàng lúa chín hiện lên một cái chòi canh. Người canh đồng là bác xã viên già thỉnh thoảng gõ mấy tiếng mõ như báo với mênh mông rằng: mình đang có mặt ở trên đời. Tiếng mõ nghe rè rè chắc nó cũng đã già rồi. Còn nhịp điệu của nó thì nghe rời rạc có thể biết là bác canh đồng vừa ngủ gật vừa gõ mõ. Trong tiếng mõ tan loãng giữa rì rào lúa chín chiếc chòi canh lúa từ từ trôi. Bờ đê bao bọc cánh đồng cũng chuyển động. Và tôi thấy mình bập bềnh trên con thuyền vô định nào đó giữa biển màu vàng.

- Nhanh lên! Chính nhanh lên!

- Đừng có chen! Đừng có chen!

- Ai ngồi trên đê cao? Chín nhanh lên!

Tôi nghe lúa thì thầm. Tôi cũng thì thầm đáp lời chúng:

- Tôi ngồi trên đê cao. Tôi cũng đang chín với các bạn đây. - Và tôi thấy mình đang chín thật sự. Màu áo xanh của tôi đã nhuóm vàng tự bao giờ màu vàng lấp lánh ánh hoàng hôn. Hoà nhập vào hạnh phúc lớn kao của người khác bản thân ta sẽ trở thành hạnh phúc. Hoà nhập với cánh đồng tôi có niềm vui của lúa chín vàng.

Mặt trời đã lặn cánh đồng vẫn còn sáng lên ánh sáng của chính nó. Chào cánh đồng tôi trở về làng với con trâu lực lưỡng của mình đã no cỏ. Rồi con trâu sẽ kéo cày cày xới đất đai cho những mùa lúa chín tiếp theo...